Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam – Đại học Fulbright Việt Nam (Fulbright), trường đại học độc lập, không vì lợi nhuận theo mô hình giáo dục khai phóng Hoa Kỳ đầu tiên ở Việt Nam hôm nay công bố các thành viên ban đầu của Hội đồng Sáng lập Trường. Khoản hiến tặng trị giá 40 triệu đô la từ tám thành viên và gia đình này sẽ hỗ trợ giai đoạn 1 dự án xây dựng khuôn viên chính của Fulbright tại Khu Công nghệ Cao Thành phố Hồ Chí Minh.

Đây là một trong những khoản hiến tặng tư nhân lớn nhất từ trước đến nay cho một tổ chức giáo dục ở Việt Nam. Tám thành viên đầu tiên của Hội đồng Sáng lập bao gồm:

  • Ông Nguyễn Bảo Hoàng và Bà Nguyễn Thanh Phượng, Công ty Phoenix Holdings
  • Ông Lê Văn Kiểm & Gia đình, Chủ tịch Công ty CP Đầu tư và Kinh doanh Long Thành
  • Bà Lê Nữ Thuỳ Dương & Gia đình, Phó Chủ tịch Công ty CP Đầu tư và Kinh doanh Golf Long Thành
  • Ông Trần Trọng Kiên & Gia đình, Chủ tịch và Tổng Giám đốc Công ty Thiên Minh (TMG)
  • Ông Đỗ Viết Cường & Gia đình, Cựu Giám đốc Chiến lược Toàn cầu, Tập đoàn Samsung
  • Ông Lê Hồng Minh & Gia đình, Sáng lập và Tổng Giám đốc Công ty cổ phần VNG
  • Ông Vương Quang Khải & Gia đình, Đồng sáng lập Công ty cổ phần VNG, Chủ tịch Zalo
  • Ông Lương Tuấn Nghĩa & Gia đình, Tổng Giám đốc Công ty Evergreen Invest

“Đại học Fulbright vô cùng may mắn và vinh dự đón nhận món quà hào phóng này từ những thành viên đầu tiên của Hội đồng Sáng lập. Sự ủng hộ lớn lao này sẽ giúp chúng tôi biến giấc mơ táo bạo về một trường đại học xanh đầu tiên của Việt Nam trở thành hiện thực, một ngôi nhà của những thế hệ lãnh đạo tương lai, nơi mọi đổi mới, sáng tạo, phát triển bền vững và tinh thần phụng sự công luôn được ươm dưỡng và lan toả mạnh mẽ,” bà Đàm Bích Thuỷ, Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam chia sẻ.

Sự kiện công bố Hội đồng Sáng lập Fulbright cũng cho thấy bước phát triển quan trọng trong văn hoá thiện nguyện ở Việt Nam. Trong khi các hoạt động từ thiện khá phổ biến ở Việt Nam thì hoạt động hiến tặng, đặc biệt là hiến tặng cho giáo dục vẫn còn là một khái niệm mới mẻ.

“Chính niềm tin của các Nhà Sáng lập vào sức mạnh cải biến của giáo dục và vai trò của Fulbright đối với tương lai của Việt Nam đã thúc đẩy hành động hiến tặng mang ý nghĩa lịch sử này. Với tư cách người thụ hưởng món quà hào phóng đó, Fulbright có trách nhiệm tiếp tục kiến tạo ảnh hưởng tích cực không chỉ ở Việt Nam mà còn đối với cộng đồng quốc tế. Chúng tôi hi vọng rằng hành động ý nghĩa của các thành viên sáng lập hôm nay sẽ truyền cảm hứng để người dân Việt Nam tiếp tục các hoạt động hiến tặng cho giáo dục, một khoản đầu tư dài hạn mang lại lợi ích lớn lao cho các thế hệ tương lai,” bà Thuỷ giải thích thêm.

Khuôn viên chính của Đại học Fulbright đang được xây dựng tại Khu Công nghệ Cao Thành phố Hồ Chí Minh trên khu đất rộng 15ha được Chính phủ Việt Nam trao tặng. Đây sẽ là khu phức hợp giáo dục tiên tiến nhất về môi trường từng được xây dựng tại Việt Nam và sẽ đóng vai trò như một phòng thí nghiệm sống động về phát triển bền vững cho sinh viên, giảng viên và công chúng quan tâm.

Cùng với khoản hiến tặng của các thành viên Hội đồng Sáng lập, Đại học Fulbright Việt Nam cũng tiếp nhận khoản tài chính trị giá 37 triệu đô la dưới hình thức một khoản vay trực tiếp 20 năm của Tổ chức Tài chính Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (DFC) để hỗ trợ việc xây dựng giai đoạn I của dự án xây dựng ký túc xá, các tòa nhà phục vụ cho hoạt động đào tạo, nhà ăn và nơi giải trí cho 1.500 sinh viên. Fulbright sẽ tiếp tục đẩy mạnh các nỗ lực gây quỹ để hoàn tất toàn bộ khuôn viên Trường trong những năm tới, đủ năng lực tiếp nhận khoảng 7.000 sinh viên từ khắp Việt Nam.

Khoản hiến tặng tư nhân lớn nhất trong lịch sử Fulbright này được công bố cùng với chuyến thăm Trường của ông John Kerry, Đặc phái viên Tổng thống Hoa Kỳ về Khí hậu. Khi còn là một thượng nghị sĩ, với tầm ảnh hưởng của mình, ông Kerry đã đóng vai trò then chốt trong quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như thành lập Đại học Fulbright Việt Nam.

Fulbright cũng vinh dự nhận được sự ủng hộ lâu dài của Chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam về tài chính và đất đai. Các khoản tài trợ và hiến tặng này minh chứng tầm quan trọng của cách tiếp cận đối tác công – tư mà Fulbright theo đuổi trong nỗ lực gây quỹ để xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế đầu tiên cho Việt Nam. Chúng cũng tạo điều kiện để Trường có thể kiến tạo những thay đổi tích cực không chỉ cho cộng đồng Fulbright mà còn cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và ngày mai như tầm nhìn ban đầu của chính phủ hai nước khi đồng thuận thành lập Fulbright với tư cách trường đại học độc lập theo mô hình khai phóng đầu tiên của Việt Nam.

Về Đại học Fulbright Việt Nam

Đại học Fulbright Việt Nam là một trường đại học mới của Việt Nam được truyền cảm hứng bởi truyền thống giáo dục khai phóng của Hoa Kỳ, với sứ mệnh phụng sự xã hội Việt Nam thông qua các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và kết nối tích cực với thế giới. Fulbright hướng đến đào tạo những công dân ưu tú, có tri thức, kĩ năng, am hiểu sâu sắc về Việt Nam và kết nối chặt chẽ với thế giới, mang tinh thần phụng sự và khát khao kiến tạo những thay đổi tích cực cho cộng đồng. 

Trường khởi nguồn từ dự luật ngân sách 1991 do Thượng nghị sĩ John Kerry bảo trợ để cấp học bổng cho sinh viên và các cán bộ quản lý nhà nước của Việt Nam sang Mỹ học. Tiếp nối thành công của chương trình này, vào năm 1994, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã tài trợ cho Trường Quản lý nhà nước John F. Kennedy tại Đại học Harvard hợp tác với Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh để thành lập Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, trung tâm đào tạo chính sách công đầu tiên của Việt Nam. Cả hai chương trình trao đổi và chương trình đào tạo chính sách công sau đại học hiện nay vẫn đang hoạt động và đã đào tạo hơn 2.000 nhà quản lý và hoạch định chính sách trong khu vực công và tư tại Việt Nam.

Vào năm 2016, trung tâm đào tạo chính sách công do Harvard ươm tạo được phát triển thành Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, đơn vị học thuật đầu tiên của Đại học Fulbright Việt Nam. Hiện nay, Đại học Fulbright có 3 nhánh đào tạo học thuật – Chương trình đại học cấp Bằng Cử nhân Khoa học Xã hội, Bằng Cử nhân Khoa học và Bằng Cử nhân Kỹ thuật, Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright cấp bằng Thạc sĩ Chính sách công trong lĩnh vực Phân tích chính sách, Lãnh đạo và Quản lý, và Học viện YSEALI (Sáng kiến Thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á).

Ian Kalman là một cái tên rất quen thuộc đối với cộng đồng Fulbright dưới cương vị là một trong những giảng viên sáng lập của Trường. Anh hiện đang dẫn dắt bộ môn Nhân chủng học với nhiều môn học thú vị, trong đó phải kể đến môn “đặc sản” về Nhân học không gian mạng được rất nhiều sinh viên yêu thích. Từ lúc tham gia Đại học Fulbright Việt Nam, Tiến sĩ Ian Kalman liên tục tạo nên những giá trị học thuật cũng như những giá trị cộng đồng tích cực thông qua nhiều đóng góp nổi bật như dẫn dắt một chuỗi sự kiện Fulbright Speakers’ Series và khởi xướng hội thảo học thuật đầu tiên tại Fulbright. Ngoài công tác giảng dạy, anh vẫn tiếp tục nghiên cứu và gần đây nhất đã xuất bản một cuốn sách mang tên Framing Borders: Principle and Practicality in the Akwesasne Mohawk Territory (tạm dịch: Hoạch định biên giới: nguyên lý và thực tiễn áp dụng đối với lãnh thổ Akwesasne Mohawk).

Từ chuyên khảo địa phương tới hiện tượng toàn cầu

Biên giới không phải là một chủ đề mới mẻ – biên giới vốn là một khái niệm cơ bản trong đời sống chính trị, thường xuyên được nhìn nhận dưới góc độ lịch sử hoặc địa lý. Thường những nghiên cứu về biên giới sẽ giải đáp những câu hỏi như: đường biên giới được thành lập khi nào, ở đâu, và cách quyết định vị trí của đường biên giới được căn cứ ra sao. Tuy nhiên, Tiến sĩ Ian Kalman lại nghiên cứu chúng qua khía cạnh nhân học của những tương tác biểu trưng (symbolic interactions). “Lý thuyết tương tác biểu trưng cho rằng cuộc sống xã hội được “xây dựng” thông qua các hoạt động giao tiếp xã hội. Thế giới chúng ta đang trải nghiệm được vun đắp qua các cuộc đối thoại hàng ngày” – anh giải thích.

Cuốn sách của Ian, Framing Borders, được xuất bản vào năm 2021 bởi Nhà xuất bản Đại học Toronto, là một chuyên khảo phân tích sự khác biệt cơ bản giữa nguyên tắc học thuật về chủ nghĩa thực dân của người định cư và những gì thực sự diễn ra ở lãnh thổ Akwesasne, cộng đồng bản địa nằm dọc theo đường biên giới lớn nhất ở Canada. Đây là một công trình liên ngành, khám phá vượt qua đường biên giới để hiểu được cuộc sống của thực dân qua những lăng kính đa dạng, từ nhân chủng học, khoa học chính trị, nghiên cứu bản địa đến cả luật. Sử dụng lối viết văn xuôi dễ tiếp cận và sinh động, Tiến sĩ Ian Kalman chỉ ra những tương tác phức tạp giữa các sĩ quan biên phòng và cư dân Akwesasne, thông qua những kinh nghiệm ở biên giới của các thành viên cộng đồng Mohawk để hiểu hơn về lịch sử thực thi biên giới địa phương cùng những nghịch lý, mâu thuẫn và nhầm lẫn ẩn dưới đường biên giới.

Bản đồ thể hiện vị trí địa lý chính trị của Akwesasne. Nguồn: Viện Nhân học Xã hội Max Planck.

Ian chia sẻ lần đầu tiên anh quan tâm đến biên giới của người bản địa khi anh còn là một sinh viên đại học. Trong lớp học về Luật liên bang của người da đỏ, anh đã được học về các cuộc biểu tình vượt biên (trong hòa bình). Trong các cuộc biểu tình này, người dân bản địa sẽ diễu hành và đơn giản là đi bộ theo đoàn qua biên giới mà không dừng lại hoặc trình ra giấy tờ tùy thân như thường lệ vì đối với họ, biên giới không thực sự tồn tại. Với tư cách là những người dân bản địa của vùng đất có bản sắc chính trị, văn hóa riêng, họ từ chối nhận định đường ranh giới cắt ngang qua nơi sinh sống của cộng đồng họ. Chính sự không công nhận đường biên giới ấy dã khơi dậy sự tò mò của Ian và anh bắt đầu tìm cách trả lời câu hỏi: ‘từ chối một biên giới nghĩa là gì?’, qua đó cũng hiểu thêm về những xúc cảm và sắc thái phức tạp ẩn dưới hành động này.

Ngày lễ kỷ niệm nhân dịp được xây dựng một cây cầu cấp thấp mới, nối Akwesasne với lục địa Canada. Cư dân Mohawk bị hàng rào kẽm gai cấm đi bộ chân trần tham gia lễ kỷ niệm.

Nhiều nhà nghiên cứu dành vài tuần hoặc một tháng ở nơi họ chọn làm chuyên đề để tập trung vào các nguồn thông tin thứ cấp, qua khảo sát và phỏng vấn nhóm để thu thập dữ liệu. Tuy nhiên, đối với cộng đồng Akwesasne, biên giới là một phần của cuộc sống hàng ngày, vì vậy để hiểu được biên giới, Ian quyết định trải nghiệm cuộc sống hàng ngày ở đó. Ian đã dành hơn một năm tại đây để nghiên cứu thực địa lâu dài. Anh cho hay: “Tôi phải ở đó đủ lâu cho đến khi mọi việc trở nên nhàm chán vì hầu hết mọi người đều cảm thấy ngán ngẩm khi phải xếp hàng chờ để trả lời những câu hỏi giống nhau lặp đi lặp lại hàng ngày.” Trong khoảng thời gian sống và làm nghiên cứu tại đây, anh đã vượt qua biên giới tới hơn một nghìn lần để hoàn toàn hòa mình trong trải nghiệm của những người dân địa phương sống ở đó, cũng như để nhìn qua lăng kính của các sĩ quan biên phòng. “Các sĩ quan bắt đầu quen mặt và biết rõ tôi giống như họ biết những người sống ở đó. Sự kết nối giữa người với người ấy đã khiến tôi cảm thấy công cuộc nghiên cứu này thực đáng giá.”

Cuốn sách không chỉ phân tích mô tả về biên giới mà còn chứa đựng những ý nghĩa rộng hơn. Trên thực tế, “Framing Borders là một nghiên cứu chuyên sâu về bối cảnh văn hóa địa phương cụ thể nhưng cũng bao hàm cả những trải nghiệm chung của nhân loại. Từ những tương tác nhỏ cũng đủ để phản chiếu nhiều hiện tượng và lý thuyết khác trong xã hội. Đa số các vùng biên giới là nơi sinh sống của những người dân tộc thiểu số với nền văn hóa và lịch sử khác biệt với nhóm dân tộc chính. Vì vậy, cũng có thể suy ra một hiện tượng toàn cầu thông qua một nghiên cứu điển hình tại địa phương Akwasasne, ” anh nói.

Thế giới qua lăng kính của những tương tác thường nhật

Biên giới, cũng như những tương tác khác trong cuộc sống, định hình (frame) các suy nghĩ cụ thể về cách thế giới vận hành. Áp dụng lý thuyết đóng khung (frame analysis) của Erving Goffman, nhà xã hội học người Mỹ có ảnh hưởng tầm cỡ nhất trong thế kỷ XX, Ian lập luận rằng các cuộc trò chuyện ở biên giới hoàn toàn có thể được đóng khung theo nhiều cách khác nhau. Theo đó, cùng một câu hỏi được đặt ra theo những cách khác nhau, sẽ nhận được những câu trả lời khác nhau.

Khi một sĩ quan biên phòng hỏi: ‘bạn là người Mỹ hay bạn là người Canada?’, họ đã vô tình đóng khung tính cá thể của người dân trong hai lựa chọn duy nhất là Mỹ hoặc Canada. Tuy nhiên, đối với hầu hết người dân bản địa và dân tộc thiểu số, cộng đồng của họ thường nằm dọc đường biên giới. Vì vậy, danh tính, ngôn ngữ, văn hóa, lối sống của họ không phải là người Mỹ hay người Canada, thay vào đó lại là thuộc một cộng đồng riêng, trong trường hợp này là Mohawk. “Vậy câu hỏi đặt ra là: nếu đường biên giới không chỉ là những đường vẽ trên bản đồ, mà là thứ được hình thành thông qua các cuộc trò chuyện, thì có nên đặt nhiều sự quan tâm hơn tới nội dung của những cuộc trò chuyện ấy? – những cuộc trò chuyện ở trạm kiểm soát, nơi phải trình đủ giấy tờ tùy thân và trả lời những câu hỏi bắt buộc để xác nhận đủ điều kiện được qua biên giới hợp pháp.”

Biển báo chờ song ngữ của Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canada để thông báo cho khách du lịch về thời gian chờ đợi. Điều đáng chú ý là rất ít cư dân Akwesasne nói tiếng Pháp.

Hình ảnh về “biên giới” giữa các phần của cộng đồng hợp pháp ở Quebec và New York. Lưu ý rằng các dấu hiệu thay đổi duy nhất là vỉa hè và biển báo giới hạn tốc độ tính bằng Kilômét chứ không phải dặm.

Trong cuốn sách mới xuất bản, Ian cho rằng thay vì sử dụng các đặc điểm nhận dạng như quốc tịch, chủng tộc, địa vị xã hội hoặc giới tính, v.v., chúng ta nên xem bối cảnh như một cách dự đoán về tương tác giữa con người với nhau. “Đôi khi chúng ta tập trung quá nhiều đến sự khác biệt về văn hóa trong khi có rất nhiều thứ được chia sẻ với tất cả mọi người ,” anh nói. “ Tất cả chúng ta đều muốn có sự tôn trọng. Chúng ta không muốn lãng phí thời gian của mình. Chúng ta muốn mọi người đối xử tốt với bản thân. Vì vậy, nếu chúng ta cùng bắt đầu từ góc nhìn đó và tập trung nhiều hơn vào ngữ cảnh hơn là danh tính như một thứ quyết định sự tương tác của mọi người, thì nó sẽ mang lại cho chúng ta rất nhiều sự linh hoạt. Vì khi đó, chúng ta có thể chủ động hơn trong việc định hình bối cảnh.”

Thấu hiểu cộng đồng bản địa và những vấn đề căn bản xung quanh đó, Ian đã dành nhiều thời gian để làm tài liệu đào tạo cho các sĩ quan biên phòng nhằm giúp cải thiện các mối quan hệ với người dân. Anh cũng giúp làm báo cáo chính sách cho chính phủ Mohawk, giúp họ thực hiện nghiên cứu định lượng và phân tích dữ liệu. Dần dà, Ian đã trở nên rất gần gũi với cộng đồng và anh vẫn quay lại thăm hỏi bạn bè tại Akwesasne “chỉ vì tôi thực sự nhớ nơi đây và tôi nhớ bạn bè quanh đây.” Ian vừa cười vừa chia sẻ về những kỷ niệm tại Akwesasne: một lần làm chủ hôn hai người bạn của anh, hay đơn giản chỉ là những đêm họ chơi Dungeons and Dragons cùng nhau.

Xuyên suốt cuốn chuyên khảo nghiên cứu đan xen những câu chuyện cười nhẹ nhàng, chúng ta có thể tìm thấy một ý chính được phản ánh trong cuốn sách: hãy đối xử tốt với nhau. Ian thêm: “Đây không phải là một cuốn sách rao giảng những điều vĩ đại hay chứa đựng phát kiến của thời đại, nó chỉ đơn giản hướng mọi người đối xử với nhau tốt mà thôi.”

Ảnh tự chụp của Tiến sĩ Ian Kalman tại sông St Lawrence.

Học tập hiệu quả hơn qua tiếng cười

Cách viết pha chút hài hước cũng là một sự phản ánh chân thật của tính cách TS. Ian Kalman ngoài đời. Anh tin rằng điều quan trọng nhất đối với sinh viên là sự tận hưởng trải nghiệm trong lớp học, rằng chúng ta học hiệu quả hơn với những câu chuyện thực tế và những tiếng cười. Quan trọng hơn cả chính là khả năng kết nối những thứ vốn dường như không được liên quan một cách tự nhiên. Học tập chất lượng không quá chú trọng đến việc lưu giữ kiến ​​thức vì trong thời đại kỹ thuật số này, hầu hết các thông tin đều có thể được tìm thấy trên internet một cách dễ dàng. Thay vào đó điều quan trọng giờ đây nằm ở sự sáng tạo, cách liên kết và phối hợp những kỹ năng, kiến thức với nhau một cách sáng tạo. “Tôi nghĩ rằng học tập phải vui vẻ và bắt nguồn từ sự hứng khởi. Và đó là những gì tôi mang vào lớp học với tư cách là một giảng viên đứng lớp” – TS. Ian Kalman cởi mở chia sẻ về triết lý giáo dục của anh.

Trong suốt buổi phỏng vấn, Ian giữ nguyên tính cách điềm tĩnh nhưng không kém phần vui vẻ hài hước. Lớn lên ở một thành phố đa dạng về văn hóa như New York, anh đã được nuôi dưỡng một tư duy cởi mở và anh luôn tìm thấy nguồn cảm hứng từ những khoảnh khắc nhỏ hàng ngày. Ian rất hào hứng chia sẻ về dự án sắp tới của mình về triết học so sánh giữa người Mỹ bản địa và Châu Á, một chuyên đề được truyền cảm hứng từ việc tiếp xúc nhiều với triết học Châu Á, cũng chính là một cơ hội anh nắm bắt được trong thời gian công tác tại Đại học Fulbright Việt Nam.

Tiến sĩ Ian Kalman tại hội thảo dành cho các nhà giáo trên khắp cả nước PEN 2020 (Mạng lưới các nhà giáo dục tiên phong) tại Fulbright.

Fulbright sẽ mãi là một trong những công trình lớn nhất mà tôi từng tham gia. [Là một thành viên sáng lập của Trường], tôi vô cùng trân trọng cảm giác phiêu lưu khai phá này và đặc biệt là cơ hội được góp phần gây dựng nên mô hình đào tạo mầm trẻ cho tương lai. Tại Fulbright, giảng viên có sự tự do để giảng dạy nhiều lớp học chuyên đề thú vị và được làm việc với những sinh viên vô cùng sáng. Bên cạnh đó, những đồng nghiệp cũng rất tuyệt vời. Tôi tin rằng chúng tôi thực sự đang xây dựng một chương giáo dục mới có sức mạnh ảnh hưởng cho cả cuộc sống của các sinh viên, học viên nói riêng và cho Việt Nam nói chung” – Ian bộc bạch.

Trường Đại học Fulbright Việt Nam xin trân trọng thông báo: Hồ sơ tuyển sinh cho kỳ Ưu tiên chương trình Cử nhân khóa 2022-2026 trên trang web https://apply.fulbright.edu.vn sẽ đóng vào lúc 14:00 ngày thứ Hai, 29/11/2021 (một tháng nữa, tính từ hôm nay). Khác với hàng năm, hồ sơ năm nay KHÔNG đóng vào nửa đêm Chủ Nhật nữa, các bạn ứng viên lưu ý nhé. So với kỳ tuyển sinh Mùa xuân, nộp đơn vào kỳ Ưu tiên sẽ đem đến cho các bạn ứng viên những lợi thế sau:

☘ Các bạn được nhân đôi cơ hội đỗ vào trường (nếu may mắn chưa mỉm cười với bạn ở Kỳ ưu tiên, các bạn có thể nộp lại vào Kỳ mùa xuân và hồ sơ của các bạn đã được lưu trữ trên hệ thống)
☘ Các bạn có thêm thời gian tìm hiểu về trường cũng như sẽ biết kết quả từ trước khi thi tốt nghiệp THPT (kết quả của kỳ Ưu tiên dự kiến sẽ được công bố vào cuối tháng 3/2022; kết quả của kỳ Mùa xuân dự kiến sẽ được công bố vào đầu tháng 7/2022)
☘ Các bạn có nhiều cơ hội được học bổng hơn (học bổng Nguyễn Phương Family Scholarship chỉ dành cho các bạn nộp kỳ Ưu tiên; học bổng Fulbright University Vietnam dành cho cả hai kỳ)

Văn phòng Tuyển Sinh Đại học Fulbright đang rất mong chờ được đọc những câu chuyện, những bài viết, những sản phẩm của các bạn ứng viên năm nay. Nếu có bất cứ thắc mắc nào, các bạn học sinh và quý phụ huynh có thể liên hệ qua số điện thoại của văn phòng tuyển sinh tại 028 7303 7788, email của văn phòng apply@fulbright.edu.vn, hoặc theo dõi trang Facebook của Ban Tuyển sinh tại Road to Fulbright University Vietnam.

Ngày hội Tuyển sinh Open House 2021 của Đại học Fulbright sắp diễn ra. Ban Tuyển sinh xin công bố danh sách 7 lớp học thử (cùng với mô tả của từng lớp) với 7 chủ đề khác nhau trải dài trong suốt tuần lễ từ 01/11 đến 07/11. Nếu bạn quan tâm, vui lòng đăng ký tại: https://bit.ly/FulbrightOpenHouse21 trong tuần này.

Link Zoom đến lớp học thử sẽ được gửi qua email từ 24 đến 48 tiếng trước ngày lớp học diễn ra.

Lưu ý: Vì lý do bất khả kháng, lớp Lịch sử Việt Nam của TS. Andrew Bellisari đã được đổi từ tối thứ Tư 03/11 qua tối thứ Ba 02/11 và lớp Tâm lý học và Nghệ thuật của TS. Jill Sirikantraporn đã được đổi từ sáng Chủ Nhật 07/11 qua tối thứ Tư 03/11).

Các lớp học trực tuyến được giảng dạy bởi 7 giảng viên của Đại học Fulbright lần lượt như sau:
  • TS. Vũ Minh Hoàng: Lớp học “Liệu chiến tranh Mỹ – Trung có phải là không thể tránh khỏi: Bẫy Thucydides trong bối cảnh lịch sử”, 19:30 Thứ 2, 01/11

Trong chuyến thăm Hà Nội vào tháng 8, Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đã cáo buộc Trung Quốc “tiếp tục cách hành xử chèn ép và hăm dọa ở Biển Đông”. Đáp lại, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Văn Bân đã lên tiếng chỉ trích hành vi tương tự của Mỹ ở Afghanistan.

Liệu một ngày nào đó, những đòn đánh chính trị thông qua lời nói và các biện pháp trừng phạt kinh tế sẽ nhường chỗ cho xung đột quân sự hoàn toàn giữa Mỹ và Trung Quốc, với những hậu quả tàn khốc cho khu vực và thế giới? Nhà khoa học chính trị tại Harvard – Graham Allison đã lập luận rằng trừ khi mọi thứ thay đổi mạnh mẽ, hai bên sẽ không thoát khỏi “Bẫy Thucydides” và chiến tranh sẽ xảy ra. Nhưng chính xác Thucydides là ai, và làm thế nào việc nghiên cứu về cuộc đời và thời đại của người cha đẻ của lịch sử khoa học này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quan hệ Mỹ – Trung hiện tại? Rốt cục, hai bên sẽ phải làm gì để thoát khỏi “Bẫy Thucydides” – một “Trò chơi Con mực” phiên bản tối thượng của quan hệ quốc tế?

TS. Vũ Minh Hoàng

  • TS. Andrew Bellisari: Lớp học “Cái giá của quá khứ: Điều mà đồng tiền có thể kể về lịch sử Việt Nam?”, 20:30 thứ 3, 02/11

Mọi thứ đều có một lịch sử hình thành, bao gồm cả tiền tệ! Trong buổi học thử này, bạn sẽ được khám phá 150 năm lịch sử Việt Nam thông qua việc xem xét các loại tiền khác nhau mà dân tộc ta đã sử dụng. Đây là một lớp học lịch sử không cần học thuộc lòng ngày tháng hay sự kiện. Chỉ cần đăng ký, bạn sẽ được chơi với những đồng tiền cổ (online), và học không chỉ những gì lịch sử có thể kể ta nghe về tiền, mà tiền có thể kể ta nghe những gì về lịch sử!

TS. Andrew Bellisari

  • TS. Jill Sirikantraporn: Lớp học “Cảm xúc & tri giác hình ảnh: Nơi Tâm lý học gặp gỡ Nghệ thuật”, 19:30 thứ 4, 03/11

Chúng ta thường nhìn ngắm những sự vật xung quanh mình và tự nhủ rằng mình biết chính xác bản thân đang nhìn ngắm cái gì. Nhưng liệu chúng ta có thật sự biết hay không? Lớp học này sẽ xoay quanh mối liên hệ giữa tâm lý với nghệ thuật thị giác trong khuôn khổ của cách chúng ta “cảm nhận” bằng thị giác và “tiếp thu” bằng nhận thức thế giới của chúng ta.

TS. Jill Sirikantraporn

  • TS. Kevin Hart: Lớp học “Kết cấu kể chuyện: Bài học về phân tích văn học”, 17:00 thứ 5, 04/11

Bằng cách nào mà một câu chuyện được kể đã cấu thành nên ý nghĩa của chính nó? Bằng cách nào mà những câu chuyện đã dẫn dắt chúng ta đến những câu hỏi về bản ngã và vai trò của bản thân trong xã hội? Trong lớp học này, thông qua việc phân tích truyện ngắn “Girl” của Jamaica Kincaid, chúng ta sẽ phân tích nghệ thuật tự sự của tác giả và xem xét những đánh giá phê bình về bản sắc người phụ nữ.

TS. Kevin Hart

  • TS. Phan Vũ Xuân Hùng: Lớp học “Khám phá màu sắc”, 19:30 thứ 6, 5/11

Bạn có bao giờ tò mò về mối quan hệ giữa ánh sáng và vật chất? Đến với lớp học này, học sinh sẽ được làm những thí nghiệm trên máy tính để khám phá ánh sáng và vật chất tương tác với nhau như thế nào. Lớp học sẽ cập nhật cho học sinh những nghiên cứu mới nhất của khoa học về màu sắc và ánh sáng (như đèn neon, đèn LED).

Lưu ý cho học sinh:

1.Nếu bạn không có máy vi tính (laptop, máy tính để bàn, v.v.) thì bạn vẫn có thể tham gia lớp học thử, đừng lo lắng nhé!
2.Nếu bạn có máy vi tính, vui lòng tải xuống và cài đặt phần mềm NAAP Labs – v1.1.msi từ trang web này: https://astro.unl.edu/nativeapps/. Sau khi cài đặt xong, bạn hãy đi đến phần 8. Hydrogen Energy Levels –> Hydrogen Atom Simulator để khám phá trước khi bắt đầu lớp học thử nhé.

TS. Phan Vũ Xuân Hùng

  • TS. Ian Kalman: Lớp học “Nhân học thời đại số: Xã hội Internet”, 19:30 thứ 7, 06/11

Trong vài thập niên trở lại đây, hầu hết lượng thông tin trên thế giới được chuyển sang định dạng kỹ thuật số; chúng được chuyển đổi thành mã nhị phân để có thể sao chép, dán, phân tích và sửa đổi. Trong khi Thung lũng Silicon đã kiếm được hàng nghìn tỷ đô la với lời hứa về “khả năng vô hạn” của internet – thì về mặt bản chất, các mã code đứng đằng sau lại có giới hạn: chúng được tạo ra từ một chuỗi chỉ có những số 0 và 1. Đây là một đặc trưng công nghệ có kèm theo hệ quả xã hội. Trong lớp học này, học sinh sẽ được giới thiệu về các nguyên lý và công cụ cơ bản của nhân học thời đại số. Chúng ta sẽ xem xét cách thông tin kỹ thuật số đã định hình cuộc sống hàng ngày – từ công việc, giáo dục, tương tác xã hội, cho đến chính căn tính của mỗi người – như thế nào.

TS. Ian Kalman

  • TS. Nguyễn Nam: Lớp học “Tôi là ai và vì sao ngành Việt Nam học tại Fulbright lại quan trọng?”, 17:00 Chủ Nhật, 07/11

Bên cạnh việc cho các bạn học sinh thấy được một môn học được giảng dạy như thế nào ở Fulbright, lớp học thử ngắn này sẽ cung cấp cho bạn một cơ hội để tìm hiểu về chính bản thân mình bằng cách đặt các câu hỏi về bản dạng theo một trình tự quan trọng nhất định. Chẳng hạn như một người sẽ có nghĩa vụ như nào đối với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội và môi trường nói chung. Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để sinh viên tìm hiểu về ngành học mang tính liên ngành Vietnam Studies tại Fulbright cũng như vai trò của nó trong việc củng cố bản sắc văn hóa của sinh viên và nâng cao nhận thức về trách nhiệm của họ với tư cách là một công dân Việt Nam và toàn cầu.

TS. Nguyễn Nam

Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (Đại học Fulbright Việt Nam) thông báo tuyển sinh Chương trình Thạc sĩ Chính sách công khóa 2021-2023 (MPP2023).

Năm nay, Chương trình Thạc sĩ Chính sách công MPP2023 cung cấp các gói hỗ trợ học bổng đa dạng cho các nhóm đối tượng khác nhau do Vụ Văn hóa và Giáo dục – Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (ECA) tài trợ. Cụ thể như sau:

*Với chuyên ngành Phân tích chính sách:

+ Nhóm đối tượng nhận học bổng toàn phần 100% học phí (tương đương khoảng 508 triệu đồng/học viên): Các cán bộ tham mưu và hoạch định chính sách từ khu vực quản lý nhà nước; giảng viên, cán bộ nghiên cứu đến từ các khu vực công; sinh viên tốt nghiệp loại giỏi từ các trường ĐH trong và ngoài nước.

+ Nhóm đối tượng nhận học bổng bán phần 50% học phí và đóng 50% học phí còn lại (tương đương 254 triệu đồng cho toàn bộ chương trình): Các quản lý, nhân viên đến từ khu vực phi lợi nhuận, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp.

*Với chuyên ngành Lãnh đạo và Quản lý

Học bổng 40% học phí. Học viên đóng 60% học phí còn lại, tương đương 252 triệu đồng cho toàn bộ chương trình.

Học bổng cho cả hai chuyên ngành bao gồm học phí, chi phí đi thực địa (nếu có) và không bao gồm chi phí chỗ ở, sách vở, các sinh hoạt ngoại khóa, khóa học tại trường Harvard các dịch vụ trong trường và các chi phí cá nhân khác.

Với những ứng viên có thành tích xuất sắc, đến từ khu vực công, công tác tại vùng sâu, vùng xa là nữ giới và có khó khăn tài chính sẽ được xem xét cấp hỗ trợ tài chính.

Đăng ký dự tuyển trực tuyến TẠI ĐÂY 

Tìm hiểu chi tiết tuyển sinh Thạc sĩ Chính sách công MPP2023 TẠI ĐÂY 

Chương trình Thạc sĩ Chính sách công của Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (FSPPM) là chương trình duy nhất tại Đông Nam Á đạt chuẩn kiểm định Quốc tế của NASPAA với thời hiệu cao nhất (7 năm).

Với chương trình giảng dạy tích hợp tri thức toàn cầu, hiện đại với những hiểu biết sâu sắc về bối cảnh Việt Nam, cùng cơ cấu giảng viên hài hòa giữa các nhà lý thuyết và thực hành, FSPPM không chỉ tập trung vào việc truyền thụ tri thức mà còn chú trọng vào việc hỗ trợ học viên phát triển tư duy, các năng lực và phẩm chất quan trọng để họ có thể tiếp tục học hỏi trong suốt chiều dài sự nghiệp, có thể lãnh đạo và hợp tác hiệu quả, cũng như có thể tư duy một cách chiến lược.

Đội ngũ giảng viên Việt Nam và quốc tế – đồng thời là những nhà nghiên cứu uy tín – là tài sản và niềm tự hào của FSPPM. Mỗi bài giảng hay nghiên cứu tình huống đều kết tinh từ nghiên cứu của giảng viên, trong đó tri thức về môi trường chính sách ở Việt Nam được kết hợp nhuần nhuyễn với các xu thế của khu vực và toàn cầu.

Đội ngũ giảng viên cơ hữu đa dạng, tốt nghiệp từ các trường đại học danh tiếng trên thế giới trong lĩnh vực mình giảng dạy. Ngoài ra, Trường cũng thường xuyên mời các học giả quốc tế đến từ những trường đại học hàng đầu trên thế giới như Đại học Harvard, Đại học Duke, Đại học Tufts.

Trong hơn hai thập kỷ, FSPPM đã thu hút học viên đến từ mọi miền đất nước, từ nhiều chuyên ngành, nền tảng và kinh nghiệm làm việc khác nhau. Họ có thể là cán bộ tham mưu và hoạch định chính sách, giảng viên đại học, cán bộ nghiên cứu; cán bộ quản lý trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận. Họ làm việc trong nhiều ngành nghề như công nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng, môi trường, ngân hàng, nhà ở, thương mại, du lịch, hàng không, y tế, giáo dục, năng lượng, thuế, và công chính. Cơ cấu học viên đa dạng đã đem đến những trải nghiệm học tập độc đáo, khi mỗi học viên không chỉ học từ giảng viên, mà còn có cơ hội học hỏi từ những bạn học của mình.

Trong những mùa tuyển sinh đầu tiên của Đại học Fulbright Việt Nam, chúng tôi gần như luôn nhận được những câu hỏi như đúc ra từ cùng một khuôn nào đấy: Con tôi học giáo dục khai phóng rồi ra trường thì làm nghề gì? Tại sao các con phải học những môn học “vô dụng” như Triết học, Nghệ thuật, Lịch sử? Những môn ấy có ích gì?

Đối với hầu hết gia đình Việt Nam cũng như châu Á, mục đích của giáo dục đại học là trang bị cho sinh viên những kỹ năng chuyên môn nhằm đảm bảo giúp họ có một công việc cụ thể và ổn định. Bởi vậy, những lựa chọn hàng đầu khi chọn ngành để học tại trường đại học hầu hết đều tập trung vào những ngành dễ kiếm việc làm và thu nhập cao. Và như một quan niệm đã “đóng đinh” trong tiềm thức của nhiều người, lựa chọn học đại học và con đường sự nghiệp tương lai dường như là một đường thẳng tắp, học tài chính – ngân hàng để ra làm chuyên viên tài chính, học luật sư để ra đời làm nghề luật…

Với những mặc định như thế nên nhiều người không thể hiểu vì sao các bạn sinh viên lại cần phải dành năm đầu tiên ở Fulbright để tìm hiểu về nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nhân văn, nghệ thuật và kỹ thuật trước khi quyết định chọn một chuyên ngành cụ thể.

Học cách để học: chìa khóa để sống còn

Những mối quan ngại nêu trên có thể có cơ sở thực tế 20 năm trước. Tuy nhiên, thực tế đã đi xa dần lối tư duy cũ đó. Khi tin vào quan niệm rằng ngành học sẽ trở thành việc làm, nhiều người đã quên mất rằng, có tới 60% sinh viên tốt nghiệp làm việc trái ngành, theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Đáng buồn là trong số gần 1 triệu tài xế “xe ôm công nghệ”, có tới 80% là cử nhân thất nghiệp. Trong khi đó, các doanh nghiệp vẫn than vãn không tuyển dụng nổi nhân viên như ý.

Dù muốn hay không, tất cả chúng ta đều phải thừa nhận một thực tế rằng: cho dù bạn có làm nghề gì đi chăng nữa thì những chủ đề cụ thể mà bạn học ở trường đại học sẽ ít nhiều trở nên lạc hậu với công việc hàng ngày mà bạn sẽ làm ngay sau khi tốt nghiệp. Và ngay cả khi những gì bạn học có liên quan với công việc bạn làm, thì điều đó cũng sẽ thay đổi nhanh chóng.

Một nghiên cứu gần đây dự báo rằng khoảng 80% công việc của năm 2030 thậm chí còn chưa xuất hiện. Vậy thì điều gì vẫn còn giá trị bất chấp những thay đổi? Câu trả lời là học cách để học, để liên tục tái tạo và học hỏi những kĩ năng mới.

Diễn đàn Kinh tế thế giới cho biết ba kỹ năng hàng đầu cần thiết cho công việc trong thế kỉ 21 là kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp, tư duy phản biện và khả năng sáng tạo – những giá trị quan trọng nhất của giáo dục khai phóng.

Giám đốc Điều hành Facebook, bà Sheryl Sandberg, một trong 19 nữ tỷ phú tự thân của Mỹ trong cuộc trò chuyện mới đây với sinh viên Fulbright chia sẻ từ trải nghiệm cá nhân rằng “giáo dục khai phóng dạy cho con người cách nghĩ, giống như dạy ta cách câu cá thay vì đưa cho ta con cá. Điều đó có nghĩa là khi bạn ném bất kì vấn đề gì vào họ, họ đều có thể tìm ra giải pháp.”

Giáo dục khai phóng dạy cho con người cách nghĩ, giống như dạy ta cách câu cá thay vì đưa cho ta con cá.

David Autor, kinh tế gia của MIT, tác giả của một nghiên cứu gần đây về tác động của công nghệ và toàn cầu hoá đối với công việc cho hay giới “cổ cồn trắng” làm những công việc như xử lý dữ liệu, điền form, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu đơn giản trong những ngành như bảo hiểm, ngân hàng và luật đang đối mặt với nguy cơ bị đào thải bởi máy móc. Và những nghề được trả lương cao nhất, mà ai cũng muốn, lại là những nghề mà sinh viên theo mô hình giáo dục khai phóng kiểu Hoa Kỳ được chuẩn bị tốt nhất. Đó là những nghề đòi hỏi “khả năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định, lập luận thuyết phục và kỹ năng quản lý”.

Bằng cách nào mà giáo dục khai phóng có thể chuẩn bị cho sinh viên thích ứng và quản lý tốt những thay đổi trong môi trường công việc tương lai? Thomas Cech, nhà hoá học đoạt giải Nobel, một sinh viên tốt nghiệp từ đại học giáo dục khai phóng, đã có một minh hoạ thú vị. Giống như các vận động viên thường tập các bài tập không liên quan đến môn thể thao mà họ theo đuổi, ông cho rằng sinh viên cần học cả những ngành ngoài chuyên ngành chính. “Việc tập luyện nhiều môn thể thao có thể giúp con người phát triển các nhóm cơ trọng tâm một cách hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ chăm chăm tập một môn thể thao yêu thích.

Tương tự như thế, giáo dục khai phóng khuyến khích các nhà khoa học nâng cao “lợi thế cạnh tranh” bằng cách học cả những môn về nghệ thuật hay nhân văn. Việc học trải rộng trong nhiều lĩnh vực như vậy giúp cho sinh viên phát triển những kỹ năng then chốt như thu thập và tổ chức thông tin, phân tích và định giá chúng, cũng như trình bày một lập luận. Rõ ràng, giáo dục khai phóng giúp ươm dưỡng những kĩ năng này hiệu quả hơn nhiều so với việc học viết một báo cáo thí nghiệm”.

Nguyên lý này được cụ thể hóa trong chương trình đào tạo ở Fulbright, khi những bạn học khoa học máy tính cũng cần hiểu biết về nhân văn, về thiết kế, hay về khoa học não bộ. Tương tự, nếu bạn đến Fulbright để học về Kỹ thuật, bạn phải có hiểu biết rộng rãi về nghệ thuật, có khả năng tư duy một cách phản biện và đồng cảm về những trải nghiệm con người.

Mặt khác, nếu bạn muốn học văn chương hay lịch sử nghệ thuật, chúng tôi muốn bạn nhìn nhận những chủ đề này như là những cách thức để thấu hiểu sự phức tạp trong tư duy của con người và xã hội loài người – và điều đó đòi hỏi một ý thức về khoa học, ý thức về cách mà công nghệ định hình những trải nghiệm của chúng ta, cũng như một sự nhận thức sâu sắc về cách mà các luồng thông tin và mạng lưới được cấu trúc như thế nào.

Nếu bạn đến Fulbright để học về Kỹ thuật, bạn phải có hiểu biết rộng rãi về nghệ thuật, có khả năng tư duy một cách phản biện và đồng cảm về những trải nghiệm con người.

Giá trị của những ngành học “vô dụng”

Nhưng ngay cả khi bạn tốt nghiệp Fulbright với chuyên ngành cử nhân văn chương, triết học hay nghệ thuật, tấm bằng của bạn cũng không thua kém giá trị so với một bạn học theo ngành kỹ thuật hay khoa học máy tính, Tiến sĩ Đinh Vũ Trang Ngân, Giám đốc Chương trình Cử nhân Đại học Fulbright khẳng định.

Điều này được minh chứng bằng những dữ liệu thực tế. Dựa trên số liệu về thu nhập và ngành nghề của những cử nhân sau khi ra trường, một nghiên cứu gần đây ở Mỹ chỉ ra rằng, trong khi tấm bằng cử nhân khoa học hay kỹ sư có thể giúp cho một sinh viên đạt được mức lương khởi điểm cao hơn các bạn đồng trang lứa thì lợi thế này sẽ biến mất theo thời gian. Trên thực tế thì tấm bằng cử nhân giáo dục khai phóng cũng hữu ích không kém gì những bằng cấp “thực tế hơn”, nhất là đối với những sinh viên xuất thân từ hoàn cảnh kinh tế thiệt thòi.

Về lâu dài, những người xuất phát điểm từ những chuyên ngành tưởng như “vô dụng” kể trên lại có nhiều lợi thế để thăng tiến trong những vị trí quan trọng, đòi hỏi kĩ năng lãnh đạo. Có tới 1/3 trong số 500 CEO hàng đầu nước Mỹ theo bảng xếp hạng của Fortunes tốt nghiệp từ các trường giáo dục khai phóng. Những CEO nổi danh toàn cầu như bà Susan Wojcicki, CEO Youtube có bằng cử nhân Lịch sử và Văn chương, CEO Alibaba, tỉ phú Jack Ma có bằng cử nhân ngôn ngữ Anh. Ở Việt Nam cũng không hiếm những CEO nổi tiếng xuất phát từ những ngành học không mấy liên quan, như doanh nhân Henry Nguyen, CEO của McDonald Việt Nam với bằng cử nhân ngành văn học cổ điển!

Tiến sĩ Đinh Vũ Trang Ngân

Nếu bạn còn hoài nghi giá trị của giáo dục khai phóng, đây là lời khuyên của ông Edgar Bronfman, cựu CEO công ty Seagram: “Hãy lấy bằng giáo dục khai phóng. Theo kinh nghiệm của tôi, một tấm bằng giáo dục khai phóng chính là nhân tố quan trọng nhất ươm dưỡng nên những cá nhân thú vị và đầy khao khát, những người có thể quyết định lối đi riêng cho mình trong tương lai”!

Việt Lâm

Thân gửi những người bạn trân quý của Đại học Fulbright Việt Nam,
 
Chúng ta đón chào ngày làm việc đầu tiên của năm Tân Sửu khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ ba ở Việt Nam tiếp tục diễn biến phức tạp. Với nhiều người trong chúng ta, ngày làm việc đầu tiên sẽ không bắt đầu như truyền thống, khi các đồng nghiệp cùng tụ tập và chia sẻ với nhau những lời chúc và hi vọng cho một Năm Mới bình an và nhiều thành công. Với các thầy cô và học sinh ở nhiều nơi, ngày đi học đầu tiên sẽ diễn ra trên không gian mạng, thay vì trong ngôi trường mà họ hằng thân thuộc.
 
Hành trình năm Tân Sửu – năm Covid thứ hai như chúng ta thường hay gọi, đã bắt đầu theo cách tương tự như thời điểm này năm trước, với các đợt giãn cách xã hội, các hoạt động làm việc từ nhà và học tập online. Nhưng thay vì hoang mang, lo lắng, mỗi chúng ta đón nhận những thử thách này trong tâm thế sẵn sàng hơn, điềm tĩnh hơn. Một năm xáo trộn và khủng hoảng bởi đại dịch đã trui rèn cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng tinh thần bền bỉ và sức chịu đựng phi thường trong nghịch cảnh, cũng như năng lực thích ứng và xoay sở một cách linh hoạt trước những biến cố bất ngờ. Những phẩm chất ấy đã giúp Việt Nam “vượt bão” thành công trong hai cơn sóng dịch trước đó và đi qua năm Covid thứ nhất như một trong những điểm sáng hiếm hoi. Những phẩm chất ấy cũng làm nên sức mạnh cho những cộng đồng nhỏ hơn, như Đại học Fulbright, để có thể biến những thách thức thành cơ hội vươn lên mạnh mẽ. Và tôi tin rằng chúng ta cũng sẽ vượt qua những ngày khó khăn hiện nay bằng bản lĩnh và tinh thần như thế.
 
Đợt bùng phát dịch thứ ba này một lần nữa khắc sâu sự thực rằng chúng ta đang sống trong thế giới VUCA, một thế giới được đặc trưng bởi tính biến động (Volatility), bất định (Uncertainty), phức tạp (Complexity) và mơ hồ (Ambiguity). Không ai có thể khẳng định đại dịch Covid khi nào sẽ chấm dứt, hay thế giới sẽ bước vào thời đại sống chung với dịch như thế nào. Nhưng dù tương lai còn nhiều điều bất định, thì có một điều chúng ta có thể chắc chắn: những tư duy cũ, mô hình và trật tự tổ chức cũ sẽ không thể giúp chúng ta sống sót trong thế giới đã hoàn toàn khác trước. Hơn bao giờ hết, đây là lúc chúng ta cần định hình những tư duy mới về sứ mệnh và chiến lược phát triển của mỗi cá nhân, tổ chức, cũng như không ngừng tìm kiếm, thử nghiệm những giải pháp sáng tạo để kiến tạo một tương lai tốt đẹp hơn, nhân văn hơn cho tất cả mọi người.
 
Đối với các cộng đồng giáo dục như Fulbright, cuộc khủng hoảng Covid đặt ra câu hỏi bức bách: Giáo dục, nhất là giáo dục đại học, cần làm gì và làm như thế nào để chuẩn bị cho các bạn trẻ đương đầu với thế giới nhiều biến động, nhiều ẩn số khôn lường? Gần 5 năm trước, Fulbright bắt đầu hành trình với ý niệm sâu sắc rằng giáo dục của thế kỷ 21 không thể là phiên bản nối dài của thế kỷ 20 khi những sinh viên ra trường sẽ đối mặt với những yêu cầu công việc và thế giới được định hình bởi công nghệ số và tự động hoá. Những gì đã và đang xảy ra có ý nghĩa như một cuộc kiểm chứng cho sứ mệnh mà chúng tôi đã lựa chọn ngay từ ngày đầu: định nghĩa lại giáo dục đại học – cho sinh viên, cho Việt Nam và cho tương lai.
 
Đó là một nền giáo dục mang tính chuyển hoá về giá trị cốt lõi khi hướng tới bồi đắp những kĩ năng nền tảng, những thói quen tư duy và năng lực học tập trọn đời. Đó là một môi trường giáo dục nơi các câu hỏi quan trọng hơn câu trả lời, nơi mọi ý tưởng đều được trân trọng, nơi mỗi bạn trẻ được thoả sức tìm kiếm và phát triển thành những phiên bản tốt nhất của chính mình. Dù ở bất kỳ không gian lớp học nào, trong campus ven hồ Bán Nguyệt, hay trên những nền tảng trực tuyến, họ luôn được khuyến khích và đòi hỏi phải suy nghĩ, khơi gợi trí tò mò, đặt ra các câu hỏi và thách thức sự sáng tạo để giải quyết chúng. Chỉ bằng cách đó, những sinh viên hôm nay khi bước ra đời mới không choáng ngợp và hụt hơi trước bánh xe vận hành chóng mặt của thế giới ngày mai.
 
Trên hành trình này, chúng tôi không hề đơn độc. Ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức và các trường đại học chia sẻ với Fulbright tầm nhìn và sứ mệnh của giáo dục đại học thế kỉ 21. Những đổi mới, cải cách trong cách tiếp cận, chương trình và phương pháp giảng dạy đã bắt đầu ở nhiều nơi. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, mỗi cá nhân, tổ chức tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đều có thể hợp lực để cùng nhau kiến tạo một nền giáo dục tốt đẹp hơn, vì tương lai.
 
Mến chúc tất cả các bạn một Năm Mới bình an, chân cứng đá mềm để vượt qua những ngày thử thách này.
 
Trân trọng,
 
Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam
Đàm Bích Thuỷ

Viết một bài Rap về truyện ngắn Chí Phèo, mở đầu tiết học bằng một bản nhạc sôi động để “tập gym cho não bộ” tỉnh táo, khởi tạo giờ học trực tuyến với tựa đề mượn câu nói đang là “hot trend” của giới trẻ Ơ mây zing, gút chóp em (Amazing! Good Job em – Thật tuyệt vời, làm tốt lắm em), cô và trò bắt đầu giờ học Văn bằng 1 phút khởi động với tiếng đàn Ukulele…là những ý tưởng làm giàu năng lượng giờ học của các thầy, cô giáo ứng dụng“hậu” PEN2020 – hội thảo đào tạo thực hành phương pháp giảng dạy do Quỹ Giáo dục Quỹ phát triển Giáo dục IEG Foundation và Đại học Fulbright Việt Nam tổ chức vừa qua tại Hà Nội và TPHCM.

Cô Lâm Thị Thanh Uyên, giáo viên trường THCS Châu văn Liêm Quận Ô Môn, TP Cần Thơ quyết định thử thực hành giảng dạy bằng….Facebook với các học trò của mình. Mượn cụm từ đang là “hot trend” của giới trẻ Ơ mây zing, gút chóp em (Amazing! Good Job em – Thật tuyệt vời, làm tốt lắm em) của rapper Binz trong chương trình Rap Việt để đặt tên cho nhóm học tập trực tuyến, cô Uyên đã làm cho học trò của mình “cười thả ga”, nhờ đó hào hứng tương tác chủ đề học tập tích cực.

“Cảm giác thật Yomost khi chỉ đưa chủ đề…các bạn học sinh tranh nhau bình luận (comment) xen lẫn cười – cô Uyên hào hứng chia sẻ với cộng đồng Mạng lưới các nhà giáo dục tiên phong (PEN).

PEN tại Hà Nội

Cô Phùng Thị Thanh Lài, giáo viên bộ môn Văn của trường THPT Năng Khiếu, Đại học Quốc gia TP.HCM thì đang hồi hộp chờ đợi “sản phẩm” của các học trò về đề bài “viết Ráp” cho truyện ngắn Chí Phèo. Những khuôn mặt học trò tươi tỉnh, hào hứng thực hiện những động tác tay trên nền nhạc bài “Brain Gym” khởi động giờ học của cô Võ Tuyết Thành, trường TPHT Buôn Ma Thuột khiến cả lớp tràn ngập năng lượng giờ học. Cô Đinh Thị Mỹ Hiền, THCS Hồng Bàng thì khiến các học trò bất ngờ  “đứng hình” với cách dẫn dắt giờ học tác phẩm “Làng” của nhà văn Kim Lân bằng những câu hỏi trắc nghiệm về…sự chia tay tình yêu và tính điểm cộng thưởng cho môn học khác bằng yêu cầu đọc và tìm từ khoá của tác phẩm văn học này. Kết quả thu về đó là trò không còn “ngáp ngắn, ngáp dài” như những năm học trước và hào hứng “tìm, đọc” tác phẩm để lấy điểm cộng thưởng của cô.

Những câu chuyện nho nhỏ chia sẻ trong cộng đồng hậu PEN2020 nhấn mạnh một tinh thần PEN luôn thúc đẩy đó là gắn kết những ý tưởng sáng tạo trong giáo dục với trách nhiệm, tâm huyết hiện thực hoá, hành động, triển khai ý tưởng đó. Điều khiến cô Nguyễn Thị Hoài Minh, trường phổ thông song ngữ quốc tế Wellspring Saigon luôn trăn trở đó là giáo viên có nhiều kiến thức giáo học pháp (lý thuyết nào cũng biết), có vô số ý tưởng cũng như nguồn chia sẻ ý tưởng và kỹ thuật giảng dạy không giới hạn trong thời đại số nhưng vẫn hạn chế về khả năng áp dụng vào lớp học hay hiện thực hóa ý tưởng. Không phải do giáo viên “lười”, thậm chí các thầy cô còn làm việc “cật lực” nhưng vẫn luôn làm chưa đủ, rồi phải làm thêm, làm nữa. Chính bởi vậy, cô Hoài Minh đồng cảm và chia sẻ với Tiến sĩ Nguyễn Chí Hiếu – người giảng dạy hai chuyên đề tại PEN2020 – rằng có nhiều ý tưởng mà không làm thì “cái đầu sẽ nổ tung”.

Cô Đinh Thị Hoa, giáo viên trường THCS Lê Văn Tám, tỉnh Bình Thuận quyết định “bỏ tiền túi” để tham gia hội thảo đào tạo này chia sẻ, nhiều hoạt động thực hành ở PEN không quá xa lạ với cô nhưng với nền tảng cơ sở vật chất khó khăn của trường công lập ở địa phương khiến cho các thầy cô giáo dù rất nỗ lực đổi mới giáo dục, sáng tạo các phương thức giảng dạy nhưng cơ bản vẫn đi theo lối mòn, chỉ có thể thực hiện được một phần nào sự thay đổi. Tuy nhiên, những kiến thức, phương pháp giảng dạy được hệ thống hoá tại PEN giúp cô hiểu rõ về xu hướng giáo dục của thế kỷ 21 và nhìn ra khả năng sáng tạo và thực hiện các kỹ thuật giảng dạy hiệu quả.

Thực ra giáo viên rất thích đổi mới, sáng tạo nhưng trong điều kiện hiện nay khó có điều kiện để làm. Chúng tôi luôn có nhiệt huyết, dù những khó khăn về cơ chế có một phần nhưng đó không phải hoàn toàn là lý do lớn. Ban giám hiệu của trường nơi tôi công tác cũng thích giáo viên đổi mới cách giảng dạy để phát triển năng lực của học sinh nhưng một vấn đề lớn đó là tiếp cận phương pháp đổi mới thật sát, được tập huấn kỹ càng để có thể làm đúng” – cô Hoa chia sẻ.

Khác biệt của PEN2020

Thầy Nguyễn Vĩnh Sơn – Hiệu trưởng Trường THPT Wellspring Hà Nội cho hay trong giáo dục có nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học, nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm áp dụng thực tiễn khác nhau. Nhưng 4 chủ đề của PEN 2020 gồm Năng lực Tò (Intellectual Curiosity), Học sâu (Deep Learning), Giảng dạy Trực tuyến thông qua Mạng xã hội(Digital Learning Through Social Media), Thực hành Chính niệm và Từ tâm trong Giảng dạy (Mindfulness and Compassion in Teaching), đều là các chủ đề rất thiết thực, quan trọng với những người làm giáo dục, đặc biệt đối với người giáo viên đang miệt mài kiến tạo nên sự thay đổi.

“Cùng với việc tự học, đây chính là cơ hội để mỗi thầy cô được gặp gỡ, trao đổi, học hỏi từ các chuyên gia giáo dục. Các chuyên gia sẽ giúp thầy cô từ việc hệ thống hóa, tổng hợp, tóm tắt, cập nhật các phương pháp giáo dục tiên tiến, tới việc áp dụng những cách thức, chiến lược giảng dạy cụ thể – thầy Vĩnh Sơn nhận xét.

Sự kết nối của các chuyên đề là điều mà Ban tổ chức mong muốn tạo ra khi thiết kế nội dung giảng dạy tại PEN2020.

“Ngồi suy ngẫm, mình dừng lại thưởng thức sự kết nối tuyệt vời của các chủ đề. Học sinh mà không có tư duy khám phá,không được giáo viên “châm ngòi” bản năng đặt câu hỏi của một đứa trẻ để khám phá thế giới, thì làm sao có động lực để học sâu, tức là đắm mình vào quá trình quan sát, tìm tòi, tự vấn, lắng nghe và trải nghiệm “aha moments” (khoảnh khắc thốt lên). Cũng chẳng có học sinh nào có thể đào sâu kiến thức mà không biết mình muốn đi đến đâu, không biết cái gì cần đào sâu hay không có kỹ năng học tập hiệu quả. Trong vô vàn tác lực bên ngoài, vô số sự vụ hàng ngày lôi kéo sự chú tâm của “người học” (giáo viên và học sinh), chính niệm quả thật là con đường thực tập để dừng lại, nhìn sâu và hiểu, tìm sự thư giãn và từ tâm trong hơi thở như Tiến sĩ Nguyễn Nam chia sẻ. Và mình bắt đầu hình dung ra một con đường với những “người học” có năng lực làm chủ quá trình học tập của mình, không còn bị “rượt đuổi” và tự do tư tưởng một cách có trách nhiệm trong cộng đồng giáo dục – cô Hoài Minh chia sẻ.

Từ PEN, cô Hoài Minh tự nhận vốn “nhát”, có phần kỳ thị Facebook nhưng bây giờ chẳng thể nào chối bỏ hiệu quả của nó qua giờ học “demo” (làm mẫu) của Tiến sĩ Ian Kalman. Hay đó là một bài tập thực hành tình huống suy luận góc nhìn, câu hỏi từ hình ảnh cái-bóng-đèn-sáng-mà-bị-vỡ của Tiến sĩ Nguyễn Chí Hiếu. Chỉ một hình ảnh này nhưng giáo viên có thể phát triển vô vàn cách lý giải, câu hỏi, vấn đề đặt ra khác nhau theo từng góc độ của các môn học khác nhau.

“Triết lý”của thầy Ian chân phương lắm: đến hội thảo và được “cho ăn” một phần mềm hoàn hảo, bạn chỉ có thể biết nó nhưng không dùng được. Nhưng tạo nhóm học tập trên Facebook hay tạo các files chia sẻ chắc chắn bạn làm được ngay. Mục tiêu của bản thân mình là không trở thành cái-bóng-đèn-sáng-mà-bị-vỡ. Bởi,tôi hiểu rằng chất lượng giáo dục chỉ có khi học sinh được hướng dẫn một cách có chất lượng…” – cô chia sẻ.

Lớp học của Tiến sĩ Ian Kalman

Một trong những điều mà PEN luôn nỗ lực để định hình thành bản sắc học thuật riêng của mình đó là các chuyên đề phương pháp giảng dạy phải đột phá, thiết yếu, gần gũi, cập nhật xu hướng mới cho các nhà làm giáo dục ở Việt Nam.

Năng lực Tò Mò được giới thiệu lầu đầu tại PEN2019 nhưng chuyên đề này giới thiệu trở lại trong PEN2020 được cập nhật sâu rộng nhiều kỹ thuật giảng dạy, tựa như phiên bản Iphone cập nhật đời mới với các tính năng tiên tiến, hiện đại và tiên phong. Học sâu là một chuyên đề mới và khó nhưng bất kể giáo viên nào cũng tìm thấy mình ở đó, cả về sự trải nghiệm thực hành rải rác, đơn lẻ lẫn kiến thức hiểu biết còn hạn chế, chưa đầy đủ về nó. Giảng dạy Trực tuyến thông qua Mạng xã hội tựa món nước ép quả mát, cân bằng những chủ đề trực diện kỹ thuật giảng dạy “hack não” các giáo viên. Ứng dụng những lợi thế của công nghệ trực tuyến và mạng xã hội không xa lạ với các thầy cô nhưng chuyên đề gợi ý những cách thức “sống chung” và áp dụng chúng một cách đơn giản mà hiệu quả để thầy cô tạo ra những không gian học tập, giảng dạy tươi trẻ, dễ dàng kết nối với “khẩu vị” của thế hệ gen Z. Thực hành Chính niệm và Từ tâm trong Giảng dạy là “ẩn số” bất ngờ của PEN, một thực đơn lạ, mang lại nhiều cảm xúc suy tư, lắng đọng của các thầy, cô.

Thầy Chung Anh Vũ, giáo viên trường THPT Quốc Thái, An Phú, An Giang chia sẻ trong cộng đồng PEN rằng : “Nhờ PEN mà hôm nay đi dạy, mình mới nhớ đem theo những thứ mà trước giờ mình dường như quên khi lên lớp. Đó là nụ cười, lời khen và sự thấu hiểu”. Cô Nguyễn Thị Ngân, nhà nghiên cứu giáo dục thì cho rằng, các kỹ thuật thực hành chuyên đề này do Tiến sĩ Nguyễn Nam hướng dẫn giúp giáo viên giàu có năng lượng và bình an từ bên trong rất giản dị mà dễ áp dụng, không chỉ với cá nhân các thầy cô mà cả học sinh.

Các giáo viên tham dự đào tạo PEN2020

Sau khoá học, Tiến sĩ Nguyễn Chí Hiếu bày tỏ mong muốn mỗi thầy cô sẽ chắt lọc, đúc kết cho riêng mình những kiến thức thu nạp từ PEN. Mỗi thầy cô sẽ có ứng dụng, thử nghiệm riêng, với cách thức, tốc độ, tần suất, hình thức khác nhau, với những hiệu quả khác nhau trong những môi trường, bối cảnh khác nhau.

“Điều đáng quý là chỉ cần một ý tưởng tốt đến được với học sinh – dù là một lớp, một khối hay một vài bạn – và có hiệu quả, thì đã là một thay đổi tốt và sẽ lan tỏa theo cách riêng của nó. Chứ chẳng có một thước đo nào là duy nhất và quy chuẩn cho mọi đổi thay cả. Hy vọng mỗi năm chúng ta lại được ngồi cùng nhau, lắng nghe, động não, chia sẻ và đem về một chút gì từ PEN và làm được cho học trò”.
Cô Đặng Tiên Dung, trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành chia sẻ với các đồng nghiệp tại PEN rằng: “Điều hạnh phúc của chúng em chính là mang điều gì đó mới mẻ về nhà, để có thể ươm mầm những ý tưởng hạnh phúc cho những học sinh của mình. Và quan trọng hơn, được soi chiếu nguồn năng lượng các thầy cô toả ra, em cũng có thêm nhiều động lực hơn cho lựa chọn của mình”.

Đại học Fulbright sẽ có những bài viết chi tiết về trải nghiệm thực hành của các thầy, cô giáo về từng chuyên đề giảng dạy tại PEN 2020 để phục vụ công chúng tham khảo.

Xuân Linh

* Hội thảo PEN là một phần trong nỗ lực khởi xướng Mạng lưới các nhà giáo dục tiên phong (Pioneering Educators Network – viết tắt là PEN), với sứ mệnh đem đến những kiến thức nghiên cứu giáo dục và hội thảo đào tạo đột phá, thiết yếu và thực tiễn cho các nhà làm giáo dục ở Việt Nam và trong khu vực. PEN tập trung đào tạo thực hành chuyên sâu các phương pháp giáo dục và dạy học tiên tiến dành cho các giáo viên đang công tác và giảng dạy tại các trường trung học phổ thông, đại học, các tổ chức giáo dục và trung tâm đào tạo trên cả nước.

Đại sứ Nguyễn Vũ Tú xúc động chỉ tay lên màn hình LED phóng lớn bức ảnh thủa trẻ của ông và các bạn học Việt Nam chụp cùng những người bạn Mỹ trong khuôn viên trường Trường Luật và Ngoại giao Fletcher, Đại học Tufts, Massachusetts. Bức hình chụp bên lề hội thảo về gỡ bỏ cấm vận tại Boston năm 1993 gồm có Thượng nghị sĩ John Kerry, Nguyễn Trung Thành, Thomas Vallely, lúc đó là Giám đốc Chương trình Việt Nam của Trường Kennedy thuộc Đại học Harvard, và ông Phạm Bình Minh (sau này là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao).

“Lúc đó tôi không nghĩ bức hình sau này trở thành một kỷ niệm với những con người gắn bó với những di sản lịch sử trong quan hệ Việt-Mỹ”, Đại sứ Nguyễn Vũ Tú mở đầu câu chuyện gắn bó của ông với một trong những di sản hợp tác giáo dục quan trọng bậc nhất trong quan hệ Việt – Mỹ.

Gần 30 năm trước, một nhóm cán bộ ngoại giao trẻ tuổi của Việt Nam đến Mỹ theo diện học bổng Fulbright. Người làm cầu nối để chương trình học bổng danh giá toàn cầu này của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyển được những học viên Việt Nam đầu tiên là Thomas J. Vallely, người sáng lập và là giám đốc Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard. Nhóm cán bộ ngoại giao này có Phạm Bình Minh, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Vũ Tú, sau này đều là những nhà ngoại giao cốt cán của đất nước trong thời kỳ hội nhập. Họ đã theo học về quan hệ quốc tế tại Trường Luật và Ngoại giao Fletcher, Đại học Tufts, Massachusetts, Mỹ trong giai đoạn từ 1991 đến 1995.

Ông Thomas Vallely đã nỗ lực thúc đẩy chương trình trao đổi giáo dục trên như một cầu nối mở ra giai đoạn gỡ bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ. Nhưng những nỗ lực vận động gắn kết Việt Nam vào chương trình này thời kỳ đầu gặp khó khăn lớn nhất đó là tìm được những ứng viên biết tiếng Anh. Một đất nước trong thời kỳ cấm vận, đóng cửa với thế giới, kinh tế khó khăn và đang từng bước khôi phục, tái thiết đất nước sau chiến tranh khiến ông Thomas rất chật vật tìm kiếm những người Việt giỏi tiếng Anh. Chia sẻ suy tư này với nhóm cán bộ ngoại giao theo học ở Tufts, ông để ngỏ một ý tưởng.

“Trong những lần nói chuyện ở Boston, Thomas Vallely đã nói một ý với chúng tôi rằng: Tại sao mình không thể vượt qua được trở ngại này nhỉ? Nếu như một chương trình như vậy mở tại Việt Nam, các giảng viên người Mỹ dạy học có kèm phiên dịch tiếng Việt thì sẽ có nhiều cán bộ của Việt Nam được truyền đạt kiến thức quản lý kinh tế mới” – Đại sứ Nguyễn Vũ Tú kể lại.

Việc gỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam vào đầu năm 1994 mang đến chất xúc tác cho ý tưởng trên. Thomas Vallely đã nhanh chóng vận động để đưa chương trình Fulbright đến Việt Nam trong thời điểm Việt Nam – Hoa Kỳ kết nối các nỗ lực vận động ngoại giao cho việc chính thức bình thường hóa quan hệ. Đây là lúc ý tưởng sơ khởi trong câu chuyện ở Boston với nhóm học viên Việt Nam ở trường Fletcher của Thomas Vallely trở thành hiện thực. Sau khi du học về nước năm 1994, trong khi Phạm Bình Minh, Nguyễn Trung Thành trở lại Bộ Ngoại giao công tác thì Nguyễn Vũ Tú về lại cơ quan cũ là Sở Ngoại vụ TP.HCM. Nguyễn Vũ Tú đã đại diện cơ quan ngoại vụ địa phương này trở thành đầu mối kết nối những nỗ lực vận động đưa chương trình Fulbright vào Việt Nam.

Kết quả là, Quốc hội Mỹ đã thông qua chương trình Fulbright Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam đồng ý để Bộ GD-ĐT Việt Nam hợp tác với Hội đồng các tổ chức học thuật Mỹ (ACLS) và Viện Phát triển quốc tế Harvard (HIID) thực hiện dự án đào tạo chuyên gia về quản lý kinh tế tại trường Đại học kinh tế TP.HCM. Đây là một chương trình độc lập, không liên quan đến Chương trình học bổng Fulbright toàn cầu của Bộ Ngoại giao Mỹ, chỉ dành riêng cho Việt Nam. Chưa đầy hai tháng sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ thông báo quyết định bình thường hoá quan hệ ngoại giao, chương trình Fulbright Việt Nam dưới cái tên gọi Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) tổ chức đào tạo khoá đầu tiên từ tháng 9.1995 đến tháng 7.1996, với 52 học viên là cán bộ nhà nước, nhà kinh doanh và giảng viên đại học.

Đại sứ Nguyễn Vũ Tú và các cựu học viên FETP&FSPPM

Giáo sư Dwight Perkins, lúc đó là Giám đốc Viện Phát triển Quốc tế Harvard cùng Thomas Vallely và các cộng sự đã đưa ra 3 định hướng quan trọng để phát triển FETP ở Việt Nam một cách khác biệt và hiệu quả. Trong đó có việc xác định đối tượng đào tạo sẽ không nhắm vào các cán bộ trung ương nơi dễ huy động nguồn lực. Thay vào đó, chỉ tập trung đào tạo kiến thức quản lý kinh tế, nâng cao năng lực cho cán bộ chính quyền cấp địa phương, mà ở thời kỳ thập niên 90, kiến thức kinh tế quản lý hiện đại, kết nối với nhịp đập thế giới là điều xa xỉ đối với họ. Những giáo sư người Mỹ từ Harvard tham vọng tập trung được đội ngũ học viên đông đảo, đa dạng thành phần đến từ tất cả các tỉnh, thành Việt Nam theo học tại FETP dưới sự giảng dạy trực tiếp của họ.

Nhưng để có được phiên dịch với chuyên môn kinh tế lúc bấy giờ không phải việc dễ dàng.

“Lúc đó tôi trình bày với sếp (Giám đốc Sở Ngoại vụ Vũ Hắc Bồng) là trường thiếu nguồn lực phiên dịch về kinh tế. Chú nói với tôi qua giúp trường. Trong suốt thời kỳ FETP khoá 1 đến khoá 5, các học viên gặp tôi suốt ngày trên lớp phiên dịch và giảng dạy cùng các giáo sư của Harvard”, Đại sứ Nguyễn Vũ Tú kể lại.

Nguyễn Vũ Tú trở thành trưởng nhóm phiên dịch của trường cùng các đồng nghiệp khác gồm Lửa Hạ, Thạch Quân, Kim Chi, Hiếu Hạnh, Xinh Xinh và Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Quý Tâm, luân phiên thay nhau dịch các tài liệu học thuật kinh tế của Harvard và đứng lớp phiên dịch, trợ giảng cho các giáo sư của Harvard. Trong đó, Nguyễn Xuân Thành và Nguyễn Quý Tâm sau này trở thành giảng viên gắn bó với Trường cho đến ngày nay.

Một trong những thách thức lớn của nhóm phiên dịch này đó là các thuật ngữ kinh tế hiện đại của thế giới chưa từng có trong từ điển tiếng Việt. Nhiều khái niệm kinh tế, thị trường của thế giới chưa từng xảy ra trong thực tiễn Việt Nam do nền kinh tế bao cấp, đóng cửa hội nhập trong nhiều năm. Do đó, FETP có thể được coi là một nơi “sản sinh” ra các thuật ngữ kinh tế học hiện đại tiếng Việt. Ông Nguyễn Vũ Tú còn có sáng kiến mở chương trình đào tạo về kiến thức kinh tế và thuật ngữ kinh tế cho các phiên dịch viên để ngày càng phổ biến được nhiều hơn các khái niệm kinh tế mới trong tiếng Việt.

Hơn cả công tác giảng dạy, sự gắn bó trực tiếp với Trường Fulbright của ông Nguyễn Vũ Tú cũng như sự hỗ trợ theo sát của Sở Ngoại Vụ TP.HCM còn góp phần giúp cho hoạt động của FETP trong giai đoạn đầu vượt qua những trở ngại, nhất là đặt trong bối cảnh giai đoạn đầu bình thường hoá quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ còn nhiều nghi kị nặng nề, chập chững xây dựng lòng tin. Một câu chuyện được ông chia sẻ đó là cơ sở đào tạo của FETP được đặt trong khu nhà cổ của Viện Kinh tế TP.HCM – Đại học Kinh tế TP.HCM.

Một cách tình cờ, ngôi nhà trong hẻm Võ Thị Sáu, Quận 3 này nằm ở phía sau dãy nhà trụ sở của Thành uỷ TP.HCM. Khi FETP mới đi vào hoạt động, vị trí nhạy cảm này đã trở thành nguồn cơn cho những tin đồn thổi mang nặng “thuyết âm mưu”, đặt dự án đào tạo và cơ quan ngoại vụ địa phương vào tình thế khó xử. Những câu chuyện thêu dệt vô căn cứ rồi cũng lắng xuống nhưng FETP khó lòng tồn tại đến ngày nay nếu không có vai trò của nhiều người “gác cửa” những sự vụ giống như phép thử của lòng tin Việt-Mỹ thủa ban sơ.

“Năm 2010, tôi đi công tác Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ. Lúc bấy giờ, có người đến gặp và nói với tôi rằng: cảm ơn Tú trong thời gian làm việc ở Fulbright đã giữ cho trường không bị điều tiếng như đồn thổi” – Đại sứ Nguyễn Vũ Tú chia sẻ.

Sự nghiệp ngoại giao của ông Nguyễn Vũ Tú sau này có nhiều dấu gạch sống động khác nhưng sự gắn kết của ông với Trường Fulbright vẫn luôn nối dài hơn hai thập kỷ. Những giảng viên người Việt của trường là những cộng sự, bạn bè đồng nghiệp thân thiết của ông. Ở Trường Fulbright, ông là một thầy giáo, một viên gạch làm nên FETP thời kỳ đầu tiên.

Sau này khi công tác nhiệm kỳ ở Philippines, ông từng giới thiệu một nhóm sinh viên Philippines tới tìm hiểu về ViệtNam và một trong những địa điểm tới thăm của họ chính là chương trình FETP.

Khi về họ rất ấn tượng với chương trình. Họ nói với tôi rằng, “tại sao chương trình này chỉ dành cho Việt Nam mà không làm cho cả Đông Nam Á để cho các nước khác cùng được hưởng?” Cho đến giờ, mô hình của FETP vẫn là chương trình duy nhất mà Mỹ từng thực hiện trên thế giới”.

Theo Đại sứ Nguyễn Vũ Tú, 25 năm thành lập trường Fulbright, kể từ FETP và đến nay là FSPPM (Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright) thuộc Đại học Fulbright, có một sự thật đã được chứng minh. Những năm đầu, trường ra đời trước thời kỳ bình thường hoá quan hệ được xem như một sáng kiến rất can đảm.

“Đó là thời kỳ vô cùng khó khăn, làm gì với Mỹ cũng khó. Bây giờ thế giới đã xoay chiều, Việt Nam hội nhập sâu rộng và người Việt đã hiểu rõ hơn đâu là đối tác, đâu là đối tượng. Có nhiều chương trình trao đổi giáo dục quốc tế nhưng chương trình Fulbright là chương trình duy nhất đến nay còn tồn tại, phát triển ở một tầm cao mới và trở thành tài sản của Việt Nam. Những gì Trường Fulbright tạo dựng trong 25 năm qua đã kiến tạo một di sản giáo dục quan trọng bậc nhất trong quan hệ Việt – Mỹ – Đại sứ Nguyễn Vũ Tú.

Xuân Linh

*Đại sứ Nguyễn Vũ Tú là nhà ngoại giao kỳ cựu, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Philippines, Hàn Quốc, Giám đốc Sở Ngoại vụ TP.HCM.

Vừa qua, doanh nhân tỷ phú người Mỹ David Rubenstein đã có cuộc trò chuyện trực tuyến với sinh viên Đại học Fulbright Việt Nam xoay quanh chủ đề nghệ thuật lãnh đạo nhân dịp ra mắt cuốn sách mới nhất của ông How To Lead: Wisdom from the World’s Greatest CEOs, Founders, and Game Changers (tạm dịch Cách lãnh đạo: Bài học từ những CEO, nhà sáng lập và người thay đổi cuộc chơi vĩ đại nhất thế giới).

David Rubenstein là đồng sáng lập kiêm đồng chủ tịch điều hành quỹ đầu tư tư nhân của Mỹ Carlyle Group – một trong những công ty cổ phần tư nhân lớn nhất thế giới với tài sản 221 tỷ USD. Ông cũng là một nhà hoạt động từ thiện và giáo dục, đồng thời là người dẫn chương trình của show truyền hình The David Rubenstein Show: Peer to Peer Conversations trên kênh Bloomberg. Cuốn sách mới nhất của ông How to Lead: Wisdom from the World’s Greatest CEOs, Founders, and Game Changers tổng hợp những cuộc trò chuyện lấy từ show truyền hình này giữa ông và các nhân vật có tầm ảnh hưởng toàn cầu nhằm đúc kết bí quyết của nghệ thuật lãnh đạo thành công.

Với cuốn sách này, Rubenstein muốn khai thác những trải nghiệm lãnh đạo của các giám đốc điều hành, chủ tịch, người sáng lập và những người đi đầu trong ngành tài chính, công nghệ và giải trí, chính trị gia và các nhà lãnh đạo tư tưởng để hiểu sâu hơn về các nguyên tắc và triết lý lãnh đạo của họ.

Trong cuộc trò chuyện trực tuyến tại Đại học Fulbright dưới sự dẫn dắt của nhà báo Mỹ nổi tiếng Chris Matthews, Rubenstein đã trả lời các câu hỏi của sinh viên và học viên thạc sĩ của Đại học Fulbright về các nhân vật được ông phỏng vấn trong cuốn sách How to Lead, gồm có Bill Gates, Jeff Bezos, Warren Buffett, Bill Clinton, George Bush, và Condoleeza Rice. Ông cũng chia sẻ các trải nghiệm và bài học của cá nhân ông, là một nhà lãnh đạo xuất sắc đồng thời là người muốn truyền cảm hứng lãnh đạo tới các bạn trẻ.

Như ông chia sẻ với các sinh viên và học viên thạc sĩ của Đại học Fulbright, điều quan trọng nhất ông muốn truyền tải qua buổi đối thoại trực tuyến là giúp họ trả lời những câu hỏi: Vì sao bạn muốn trở thành người lãnh đạo? Vì sao bạn nên trở thành người lãnh đạo chứ không phải là người đi theo? Trên thế giới có hơn 7 tỷ người và đa phần trong đó là người đi theo; những người này sẽ có cuộc sống nhẹ nhàng dễ chịu. Vậy tại sao phải “lao tâm khổ tứ” để trở thành người lãnh đạo? Theo Rubenstein, khi bạn là người lãnh đạo thì cuộc sống của bạn sẽ trở nên có ích hơn và tạo ra sự khác biệt bởi vì bạn có thể dẫn dắt người khác làm những điều tốt đẹp hơn cho cuộc sống của họ, và từ đó xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Tôi muốn nhắc nhở mọi người rằng chúng ta chỉ có mặt trên Trái đất này trong một quãng thời gian ngắn. Bạn có thể hờ hững bước qua cuộc đời mà không làm gì cả. Nhưng tôi nghĩ rằng cuộc đời bạn sẽ thú vị hơn nếu bạn có thể làm gì đó để giúp đỡ những người khác, và muốn làm được gì đó thì bạn nên trở thành người lãnh đạo chứ không phải là người đi theo,” ông nói.

Tại Đại học Fulbright, tinh thần lãnh đạo, tinh thần tiên phong cũng là một trong những tiêu chí được đánh giá cao để tìm kiếm các sinh viên và học viên của trường. Mới gần đây, Bộ Ngoại giao Mỹ vừa công bố dự định cung cấp 5 triệu USD để thành lập Học viện YSEALI đặt tại Đại học Fulbright, dựa trên Sáng kiến Thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á (YSEALI) là chương trình nổi bật của chính phủ Hoa Kỳ nhằm phát triển năng lực lãnh đạo cho giới trẻ và tăng cường kết nối trong khu vực Đông Nam Á.

Chủ tịch Đại học Fulbright Đàm Bích Thủy cho rằng cuộc trò chuyện với Rubenstein là cơ hội tuyệt vời cho các bạn trẻ nói chung và sinh viên Fulbright nói riêng để tìm hiểu về nghệ thuật lãnh đạo, “những điều sẽ trở nên cần thiết cho các bạn trẻ trong tương lai để dẫn dắt đất nước Việt Nam và thế giới trở nên tốt đẹp hơn”.

Những phẩm chất lãnh đạo

Từ những bài học thành công của các lãnh đạo tầm cỡ toàn cầu như Bill Gates và chính bản thân Rubenstein, ông cho rằng giáo dục chính là chìa khóa dẫn đến thành công của mỗi người. Không được sinh ra trong một gia đình giàu có nhưng Rubenstein luôn nỗ lực học tập và giành các học bổng để đến với Đại học Duke và Đại học Chicago. Ông đã học tập chăm chỉ để trở thành luật sư, thành chuyên gia tài chính và sau khi thành danh đã quay trở lại đầu tư và đóng góp cho các trường đại học. “Nếu bạn được giáo dục tốt, tôi nghĩ bạn thực sự có thể làm điều có ích trong cuộc sống,” ông chia sẻ tại cuộc trò chuyện trực tuyến.

Tuy nhiên, điều quan trọng làm nên thành công không chỉ là chỉ số IQ cao, mà còn là sự chăm chỉ không ngừng. Theo Rubenstein, nếu bạn chỉ làm việc từ 9h sáng đến 5h chiều, 5 ngày mỗi tuần, có thể bạn sẽ có một cuộc sống thoải mái, nhưng để thành công thì cần nhiều nỗ lực hơn thế.

Nhìn chung tôi đã học được rằng, nếu bạn muốn thành công trong cuộc sống thì bạn phải sẵn sàng hy sinh, làm việc chăm chỉ… Theo nguyên tắc chung, nếu bạn xuất thân từ một gia đình cực kỳ giàu có, bạn không có khả năng trở thành nhà lãnh đạo nhiều như khi bạn đến từ một gia đình có thu nhập thấp hơn hoặc một gia đình trung lưu. Những cha mẹ cực kỳ giàu có thường không sản sinh ra những đứa con khao khát muốn phấn đấu cho một điều gì đó; nhìn chung, các nhà lãnh đạo vĩ đại của thế giới đều có xuất thân khiêm tốn.”

Rubenstein cũng đề cao tinh thần lãnh đạo có đạo đức, cụ thể là tính chính trực của một nhà lãnh đạo. “Khi tôi bắt đầu hành nghề luật sư, vào ngày làm việc đầu tiên của tôi ở văn phòng luật, người đứng đầu hãng luật đã nói với tôi rằng: Điều quan trọng nhất và là điều duy nhất mà tôi sẽ nói với anh đó là anh sẽ mất cả đời để gây dựng thanh danh nhưng chỉ mất 5 phút để hủy hoại thanh danh đó,” ông kể lại.

Vì vậy, Rubenstein cho rằng người lãnh đạo giỏi cần tập hợp quanh mình những người có lương tâm, có đạo đức, và bản thân họ không bao giờ được chọn “đường tắt” mà bỏ qua vấn đề đạo đức.

Trong cuốn sách How to Lead, ban đầu Rubenstein liệt kê 12 trụ cột để làm nên một nhà lãnh đạo thành công: may mắn, tham vọng thành công, theo đuổi sự riêng biệt, làm việc chăm chỉ, tập trung, bền bỉ, tính thuyết phục, khiêm tốn, biết tuyên dương đóng góp của người khác, khả năng học hỏi liên tục, tính chính trực và sự nếm trải thất bại. Sau đó ông đã thêm vào đặc điểm thứ 13, đó là tỏa sáng trong khó khăn; nghĩa là khả năng bạn vượt lên trong khủng hoảng và thực sự trở thành một nhà lãnh đạo khi bạn ở trong những hoàn cảnh khó khăn như Covid-19.

Khi bạn gặp tình huống khủng hoảng, đó là lúc bạn phải thực sự thể hiện bản lĩnh và khả năng của mình… Những người như Abraham Lincoln hay Franklin D. Roosevelt đã không được coi là những vị tổng thống vĩ đại nếu như không có Nội chiến hay Chiến tranh thế giới thứ 2. Vì vậy khi bạn ở trong tình huống khủng hoảng, bạn có thể thể hiện khả năng của mình và nếu bạn vượt lên được hoàn cảnh, tôi nghĩ bạn có thể trở thành một nhà lãnh đạo tuyệt vời,” Rubenstein trả lời câu hỏi của học viên thạc sĩ Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM) về khả năng lãnh đạo trong khủng hoảng.

Khi thảo luận về những yếu tố quan trọng cho một nhà lãnh đạo thành công như sự may mắn, trực giác tốt, Rubenstein nhấn mạnh với các bạn sinh viên rằng những điều đó không phải tự nhiên đến với bạn.

Nếu bạn ngồi trong văn phòng hoặc trong nhà cả ngày, bạn không gặp gỡ ai và không có liên hệ với ai, thì làm sao bạn gặp may mắn. Vận may đến từ những người bạn gặp, những người có thể giới thiệu bạn với những người khác, những người cho bạn ý tưởng, truyền cho bạn cảm hứng… Những nhà lãnh đạo giỏi luôn khiêm tốn vì họ nhận ra là họ rất may mắn, họ không thể tự mình làm nên chuyện nếu không có sự giúp đỡ của những người khác. Đó là cách bạn tự tạo ra vận may cho mình,” ông cho biết.

Theo Rubenstein, những nhà lãnh đạo vĩ đại trên thế giới có một thứ gọi là trực giác, là linh cảm giúp họ đưa ra quyết định; tuy nhiên, trực giác cũng xuất phát từ kinh nghiệm, bởi vì trải nghiệm của họ mang đến cho họ linh cảm rằng một ý tưởng là tốt hay tồi.

Ngoài ra, điều phân biệt một người lãnh đạo và một người đi theo chính là tầm nhìn. “Nếu bạn chỉ nói tôi muốn làm người lãnh đạo mà không vẽ ra bất kỳ viễn cảnh nào về việc bạn sẽ dẫn dắt người khác đi tới đâu, thì bạn khó mà trở thành người lãnh đạo. Bạn cần phải có tầm nhìn và truyền đạt tầm nhìn đó tới người khác, thông qua 3 cách: diễn thuyết, viết, hoặc làm tấm gương cho người khác – là cách truyền đạt hiệu quả nhất,” ông giải thích.

Thúy Hằng