11 Tháng chín, 2020

Giáo dục Khai phóng và Tương lai của Việc làm 

11 Tháng chín, 2020

Joe Fuller và Bill Kerr, hai Giáo sư của Trường Kinh doanh Harvard, phối hợp chèo lái dự án nghiên cứu dài hơi Managing the Future of Work (Quản lý tương lai của việc làm). Họ gặp gỡ và đối thoại với nhóm học giả Eisenhower chúng tôi trong phòng họp khá cổ kính, như một di sản sót lại từ thập niên 20-30, của Harvard.

Khi thế giới đang “chuyển kênh” như liên tục được lên dây cót, các công ty cũng đang đứng trước nhiều thử thách lần đầu tiên phải đối mặt: tốc độ phát triển công nghệ, lực lượng lao động bất ổn, khoảng trống kỹ năng của nhân công, mức độ tiếp cận và sử dụng tài năng toàn cầu, tuổi thọ trung bình kéo dài, mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn.

Những xu hướng này đặt ra một bài toán khó và áp lực chuyển mình lên trên giáo dục đại học và phổ thông. Làm sao để chuẩn bị cho sinh viên bước vào đời vững vàng, bản lĩnh?

Lỗ hổng kỹ năng mềm 

Giờ đây mối quan ngại không còn là kiến thức hoặc kỹ năng chuyên ngành. Lỗ hổng thường nằm ở những năng lực nền tảng và kỹ năng mềm – những chìa khóa được cho là động cơ thúc đẩy năng lực học tập trọn đời của người học.

Dự án nghiên cứu của Joe và Bill đã thống kê những kỹ năng được cho là quan trọng nhất, xếp thứ tự từ cao xuống, đang bị thiếu hụt trầm trọng trong lực lượng sinh viên ra trường, kể cả từ các trường đại học hàng đầu:

– Giao tiếp qua văn viết và văn nói 

– Năng lực làm việc tập thể, thương lượng, quản lý khách hàng đối tác 

– Tư duy đa chiều: sáng tạo, phản biện, năng lực tự học  

– Tác phong chuyên nghiệp: etiquette (nghi thức, nghi lễ, phép xã giao), quản lý hình ảnh và phong cách cá nhân 

– Năng lực lãnh đạo: giám sát, cố vấn (mentoring), quản lý dự án 

– Tính cách: đạo đức, độc lập, độ tin cậy 

Không những vậy, nhận thức của sinh viên tốt nghiệp ra trường giờ đây còn nhiều vấn đề. Một mặt, họ đòi hỏi phải có mức lương cao và nhiều đặc ân như: thời gian làm việc linh hoạt, làm việc tại nhà, lương thưởng tăng nhanh. Nhưng mặt khác, hiệu suất làm việc của họ chưa tốt, mức độ gắn kết với công việc kém hơn, tỷ lệ nhảy việc cao. Thậm chí, nhiều tân cử nhân ngần ngại dấn thân vào công việc và không khai thác bản thân để phát triển tốt nhất có thể.

Tiến sĩ Nguyễn Chí Hiếu trong một hội thảo thực hành đào tạo phương pháp giảng dạy cho giáo viên phổ thông trên cả nước tại Đại học Fulbright Việt Nam (PEN 2019)

Trong nghiên cứu của tổ chức nghiên cứu kinh tế NBER, hai học giả Stacy Berg Dale và Alan Krueger đã kết luận: “Những sinh viên từ các trường đại học hàng đầu không kiếm nhiều tiền hơn những sinh viên bị các trường lớn từ chối và theo học ở những trường xếp hạng thấp hơn nhiều”.

Một cuộc khảo sát của Tổ chức Gallup cho thấy chỉ có 11% các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu thế giới cho rằng đại học trang bị đủ những kỹ năng để sinh viên gia nhập vào thị trường việc làm, 89% các nhà lãnh đạo doanh nghiệp còn lại lắc đầu, ngao ngán.

Đáng báo động hơn, khoảng một nửa sinh viên tốt nghiệp đại học ở Mỹ hoặc thất nghiệp, hoặc làm những công việc mà chỉ cần học sinh tốt nghiệp cấp ba là có thể làm tốt. Ở nhiều phương diện năng lực, thái độ và tính cách, những sinh viên tốt nghiệp đại học không khá hơn so với những người đi làm chỉ có bằng phổ thông hoặc bằng cao đẳng, học nghề.

Con đường nào cho sự thành công?  

Dù vậy, 94% người Mỹ trưởng thành vẫn tin tưởng tuyệt đối vào giá trị cao quý của tấm bằng đại học. Có vẻ như niềm tin này chưa bắt kịp được xu thế vận hành và tốc độ thay đổi của thế giới. Một thực tế đó là sở hữu một tấm bằng đại học chưa chắc đã nhẹ nhàng mở được cánh cửa nặng trịch dẫn vào đời và cũng chưa chắc đã trải nhựa mịn màng cho đường đến thành công.

Bộ máy chính sách và các viện nghiên cứu, những tổ chức và cá nhân đóng vai trò định hướng tương lai cho hệ thống giáo dục Mỹ đang nỗ lực chạy đua nghiên cứu để tìm câu trả lời: Giáo dục khai phóng sẽ đi về đâu, khai phóng học sinh, sinh viên như thế nào để họ đủ sức lực và tâm thế bước vào đời?

Trong những “liều thuốc” mà họ đang tìm kiếm, dù ở nơi nào, họ cũng thảo luận với tôi về ba “gia vị”:

Năng lực học trọn đời (life-long learning competencies) 

– Thói quen tư duy (habits of mind) 

– Kỹ năng nền tảng (foundational skills) 

Nhìn sang xã hội của chúng ta, mọi thay đổi giáo dục, nếu không gắn với nền tảng rõ ràng, rất dễ biến thành cách làm “vơ đũa cả nắm” hoặc hớt váng bỏ chất. Làm giáo dục theo kiểu tiện lợi “mì ăn liền”, không có nghiên cứu nền tảng sâu, sẽ rất dễ lãng phí thời gian và nguồn lực. Nhưng phí phạm lớn nhất chính là thời gian, cơ hội và đôi khi là cả cuộc đời của những người trẻ.

Giáo dục khai phóng nên làm được bốn điều cho học trò: cởi trói, kích hoạt, phối hợp, đột phá. (Một giờ học tại Đại học Fulbright Việt Nam)

“Trong cách nghĩ của tôi, một trong những khía cạnh quan trọng nhất của đại học là giúp cho bạn có một động lực mạnh mẽ để suy nghĩ độc lập. Cái khao khát được tìm hiểu nhiều mặt khác nhau của một câu hỏi, được biết một khía cạnh ý kiến của người khác và của những thời đại khác mới chính là dấu hiệu của một con người được giáo dục. Giáo dục không nên đặt bộ óc vào một cái tủ chứa đầy công thức, mà nên cho bộ óc đầy đủ chất dinh dưỡng để không ngừng mở rộng và phát triển. Hãy thu thập kiến thức bất cứ ở đâu và khi nào có thể. Hãy lắng nghe ý kiến của những người nhiều kinh nghiệm hơn bạn. Và đừng để người khác suy nghĩ thay bạn” – James Bryant Conant, cựu hiệu trưởng của Đại học Harvard chia sẻ.

Từ thuở sơ khai của giáo dục khai phóng, những người đặt nền tảng cho mô hình giáo dục này đã tuyên ngôn: Giáo dục khai phóng nên làm được bốn điều cho học trò: cởi trói, kích hoạt, phối hợp, đột phá.

Cởi trói không phải đào tạo học sinh vào một nghề nhất định trước khi chúng biết mình là ai và muốn đạt được thành tựu gì.

Kích hoạt có nghĩa không gò người học vào việc “học gạo”, học rập khuôn, là giúp người học sáng tạo và đột phá để kích hoạt thế giới của bản thân. Còn “giáo dục gạo”, rập khuôn chỉ như là những xiềng xích, gông cùm của sự bắt chước. Nếu làm không cẩn thận sẽ dễ ám ảnh những người làm giáo dục đến mờ mắt.

Phối hợp tức là giúp người học bắt tay với con người đến từ nhiều hoàn cảnh và có cá tính khác nhau, cùng hành động tạo ra một điều gì đó tích cực. Giáo dục khai phóng cần tạo cho người học thói quen nhìn vượt ra khỏi bản thân, đặt mình trong vị trí của người khác để nhìn đời sâu sắc hơn và tỏ tường hơn. Khi ấy, người học sẽ không ngừng mở rộng tri thức và ít có xu hướng tự phụ hơn.

Đột phá/ Kiến tạo chính là kích hoạt những nghi ngờ, thách thức những cách nghĩ hiện hành, phổ biến, truyền thống, mặc định. Từ những ngờ vực và thách thức đó mới dẫn đến sự ra đời của những sáng tạo và đột phá trong tư tưởng, hành động và thành phẩm.

Giáo dục không phải đơn giản để người học ngay sau khi ra trường có được công việc để sinh sống, mà còn là dạy cách tư duy, cách nghĩ và cách học để mỗi người có thêm cơ hội chạm gần đến với đam mê đích thực của bản thân.

Đam mê đích thực có ý nghĩa vượt xa một tấm bằng với tên trường danh giá. Nó chính là thay đổi và đột phá bản thân để đi con đường dài, trong một thế giới mà có lẽ mai kia, những tên trường không còn là nỗi ám ảnh, tấm bằng không hẳn là giấy chứng nhận chất lượng về một con người.

Giáo dục khai phóng chưa bao giờ và không nên được gói gọn trong những tên trường hoành tráng, mà nó là cách nghĩ và cách làm giáo dục bền vững, chạm đến chiều sâu.

Tiến sĩ Nguyễn Chí Hiếu (CEO IEG Foundation)

Related Articles

Đăng ký thông tin