28 Tháng bốn, 2018

Giáo dục khai phóng: Những người được “săn lùng”

28 Tháng bốn, 2018

Trong quá trình tìm kiếm tư liệu về giáo dục khai phóng giới thiệu đến PHHS và các em học sinh, Fulbright tham khảo một số bài viết chất lượng.

Dưới đây là bài viết của Giáo sư Terry Nardin – Giáo sư về khoa học chính trị và là giám đốc Chương trình giảng dạy đại cương tại Đại học Yale-Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Bài viết của ông về giáo dục khai phóng đăng trên Channelnewsasia.com có tựa đề: Giáo dục khai phóng ở Singapore và sự hữu ích của những kiến thức “vô dụng”.

PHẦN 1: https://fulbright.edu.vn/vi/giao-duc-khai-phong-o-singapore-va-su-huu-ich-cua-nhung-kien-thuc-vo-dung/ 

PHẦN 2: Thị trường hiểu rõ giá trị của những sinh viên tốt nghiệp từ nền giáo dục khai phóng vì họ là đối tượng được các công ty, tổ chức săn đón ráo riết.

Số liệu thống kê việc làm ở Trường đại học Yale-NUS, cũng như ở các trường đại học giáo dục khai phóng khác trên toàn thế giới, cho thấy sinh viên tốt nghiệp từ những trường này có năng lực cạnh tranh rất tốt – ngay cả trong lĩnh vực công nghệ.

Theo cuộc Khảo sát Việc làm sau Đại học ở Singapore được thực hiện gần đây, khóa sinh viên ở Yale-NUS tốt nghiệp năm 2017 có việc làm sau khi tốt nghiệp 6 tháng đầu tiên là 93%. Trong khi đó, cuộc khảo sát việc làm sau đại học được tiến hành với hơn 11.000 sinh mới tốt nghiệp từ NUS, NTU và SMU cho thấy tỉ lệ việc làm của những sinh viên này chỉ đạt 88.9%.

Sáu lĩnh vực hàng đầu có nhiều sinh viên tốt nghiệp từ các trường giáo dục khai phóng làm việc đó là tư vấn kinh doanh và quản lý; tài chính và bảo hiểm; thông tin và truyền thông; giáo dục; hành chính công và biện hộ; nghệ thuật và giải trí.

Một sinh viên tốt nghiệp ở Yale-NUS, chuyên ngành Toán học, Khoa học Thống kê và Tính toán đã gia nhập Bộ Ngoại giao Singapore và hiện đang là viên chức quốc gia của Bộ Ngoại giao Singapore tại Australia, New Zealand và nằm trong ban giám đốc Thái Bình Dương.

Nhìn lại thời gian của mình tại Yale-NUS, ông nhận xét rằng những môn ngoài chuyên ngành mà ông được học như lịch sử và triết học, đã tăng cường vốn hiểu biết của ông về các khía cạnh địa chính trị trong chính sách đối ngoại của Singapore.

Ngoài ra, những buổi hội thảo nhỏ tại trường đại học cũng giúp ông thành thạo những kỹ năng khác cũng giá trị không kém là phân tích, viết lách và thuyết trình.

Mục tiêu của giáo dục khai phóng một phần là nuôi dưỡng óc tò mò và tạo điều kiện để những ý tưởng mới được nảy nở.

Trong môi trường giáo dục khai phóng

Có hai lý do khiến những nhân tố có ích kể trên chỉ được ươm mầm tốt nhất trong môi trường giáo dục khai phóng.

Đầu tiên, sinh viên giáo dục khai phóng được học cách suy nghĩ và giao tiếp theo các phương thức khác nhau bởi vì nền giáo dục họ đang hấp thụ rất rộng và đa dạng.

Thứ hai, tỉ lệ giảng viên-sinh viên trong một trường giáo dục khai phóng được thiết kế sao cho đảm bảo có sự tương tác chặt chẽ giữa hai bên. Tỉ lệ này thường thấp hơn nhiều so với các trường khác.

Trong khi những buổi hội thảo thỉnh thoảng mới được tổ chức tại các trường đại học khác, thì ở những trường giáo dục khai phóng nói chung và ở Yale-NUS, các buổi nói chuyện chuyên đề nhỏ lại là phương thức giảng dạy chính.

Nhiều sinh viên tốt nghiệp từ trường giáo dục khai phóng tiếp tục theo đuổi việc nghiên cứu sau đại học. Một số sinh viên tốt nghiệp khóa đầu tiên của Yale-NUS đã được nhận vào các trường đại học hàng đầu. Ví dụ như có một sinh viên được chọn tham gia chương trình Học bổng Schwarzman danh giá tại Đại học Thanh Hoa, một sinh viên khác theo học tại Oxford nhờ học bổng Rhodes.

Những thành công này không chỉ giới hạn ở Yale-NUS mà có nhiều bằng chứng chứng minh rằng sinh viên tốt nghiệp từ các trường giáo dục khai phóng đều gặt hái được thành tựu ở các vị trí lãnh đạo.

Lợi thế góp phần vào những thành công này là việc sinh viên có nhiều thời gian ở trường đại học để nghiền ngẫm nhiều môn học khác nhau nhằm tìm ra lối đi riêng cho mình, bên cạnh đó là nuôi dưỡng các kỹ năng và làm quen với nhiều kiểu tư duy.

Thông thường những khóa học khác sẽ tập trung đào tạo sinh viên theo kiểu hướng họ vào các chuyên ngành qua những môn học cụ thể ngay từ đầu.

Trái lại, giáo dục khai phóng lại khuyến khích người học mở rộng phạm vi của chuyên ngành chính mà họ chọn, để tận hưởng việc học vì chính lợi ích của nó chứ không phải học để tìm việc và mài giũa sự nhanh nhẹn của đầu óc.

Nuôi dưỡng óc tò mò, tô đậm thêm cá tính

Ngoài khả năng tìm được công việc tốt, thành công của một sinh viên tốt nghiệp từ nền giáo dục khai phóng nằm ở một tầng sâu hơn: Nếu chúng ta cho rằng kiến thức phải được sử dụng để làm những điều tốt, chúng ta phải đặt câu hỏi rằng thứ gì là tốt và tại sao nó quan trọng.

Những thứ chúng ta đang mặc định là tốt đẹp – hứa hẹn về triển vọng nghề nghiệp tươi sáng, sự giàu có và những thú vui mà tiền có thể mua được – có thực sự là những điều tốt? Có khả năng suy nghĩ một cách sáng tạo, bản thân nó cũng là một niềm vui vậy? Có thể đọc được nhiều loại sách và hiểu tường tận những gì mình đọc được cũng là một sự vui thú vậy?

Ứng dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề kỹ thuật đúng là quan trọng, nhưng những ý tưởng mà chúng dựa trên mới thật sự là cái cốt lõi.

Mục tiêu của giáo dục khai phóng một phần là nuôi dưỡng óc tò mò và tạo điều kiện để những ý tưởng mới được nảy nở. Chúng ta không thể biết trước được ý tưởng mới nào là thú vị và sáng giá, hay có giá trị xét về mặt lâu dài.

Vậy thì, mục đích sau rốt của việc theo đuổi kiến thức là gì? Hàng ngàn năm trước, câu hỏi này đã khiến nhiều nhà tư tưởng ở Hy Lạp, Trung Quốc phải bối rối.

Và họ kết luận rằng điều tốt đẹp tối thượng chính là nhận ra tiềm năng toàn vẹn của con người. Điều này, theo nhà tư tưởng như Aristotle và Khổng Tử, chính là sự suy tư trí tuệ và đức hạnh.

Suy tư chính là suy nghĩ về một điều gì đó trong bối cảnh tách rời với những thứ còn lại để thẩm thấu được những giả định và ngụ ý của nó. Và để hiểu về đức hạnh, chúng ta phải nuôi dưỡng thứ gọi là “cá tính”.

William Cory, Thạc sĩ của Trường đại học Eton từ năm 1845-1872 đã có nhận xét tinh tế về cách mà một trường giáo dục khai phóng nuôi dưỡng tính cách của con người.

“Bạn được ở trong một ngôi trường tuyệt vời. Ở đây người ta sẽ ươm vào bạn những kiến thức về nghệ thuật và thói quen: thói quen của sự chú ý, nghệ thuật của sự biểu đạt, nghệ thuật giả định tại một thời điểm, nghệ thuật bước khẽ khàng vào tâm trí người khác, thói quen phê bình và bác bỏ ý kiến, nghệ thuật thể hiện sự tán đồng và phản đối, thói quen chính xác đến từng phút, nghệ thuật của việc đánh giá điều gì có thể làm được trong một khoảng thời gian xác định.

Bạn sẽ học được cách cảm nhận, chọn lọc, học để có lòng dũng cảm, học để sở hữu óc điềm tĩnh”, ông Cory nói.

Những câu chuyện thành công

Yale-NUS mới có khóa sinh viên đầu tiên tốt nghiệp vào năm ngoái, vì vậy chưa có bằng chứng để cho thấy cựu sinh viên của trường đạt được thành công lâu dài sau khi rời giảng đường đại học.

Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều sinh viên tốt nghiệp từ trường giáo dục khai phóng gặt hái được thành tựu. Dưới đây là một ví dụ mà những người yêu âm nhạc hẳn sẽ rất quen thuộc – mà con người chúng ta hơn quá nửa đều yêu âm nhạc!

Luke Wood tốt nghiệp từ Trường đại học Wesleyan – một trường giáo dục khai phóng ở Mỹ năm 1991. Tại đây, ông học về chuyên ngành Hoa Kỳ học. Sau đó, Wood quay về với niềm đam mê âm nhạc của mình khi thực tập tại Geffen Records, tiếp theo ông ký hợp đồng làm việc tại DreamWorks và Interscope.

Năm 2011, ông trở thành giám đốc điều hành và là chủ tịch của Beats Electronics – công ty mẹ của Beats được sáng lập bởi nhạc sĩ Dr. Dre và Beats Audio. Công việc của ông tại đây là xử lý một loạt các hoạt động chiến lược và vận hành trong điện tử tiêu dùng.

Vào năm 2014, Beats được Apple mua lại.

Thành công của Wood là một minh chứng nữa cho thấy dù sao đi nữa thì những “kiến thức vô dụng” cũng sẽ trở nên hữu dụng. Không chỉ vậy, với những người khác nhau thì tính hữu ích của nó cũng sẽ được biểu hiện khác nhau.

Ông lập luận rằng nghiên cứu cơ bản được thúc đẩy bởi sự tò mò và trí tưởng tượng hơn là bằng các mục tiêu thực tế. Và chúng có thể dẫn đến những đột phá công nghệ dựa trên những khám phá mới.

Theo ông, những công nghệ được xây dựng trên nền tảng những kiến thức cũ kĩ – như đường sắt – sẽ không thể nào phù hợp với công nghệ dựa trên những ý tưởng mới mẻ như điện toán số.

Lập luận của Flexner cho chúng ta thấy rằng giáo dục khai phóng không loại bỏ khoa học, mà bao gồm cả chúng. Khoa học vật lý và khoa học đời sống, cùng với toán học và khoa học máy tính, là một phần của chương trình học giáo dục khai phóng.

Tại một trường đại học giáo dục khai phóng, những chủ đề nêu trên được nghiên cứu để giúp sinh viên hình thành lối tư duy khác biệt và thú vị, chứ không phải được dùng như một bộ công cụ chính yếu để giải quyết những vấn đề kỹ thuật hay y tế.

Ví dụ, một sinh viên được đào tạo về giáo dục khai phóng có chuyên ngành khoa học máy tính và hiểu được cấu trúc chính trị khu vực thông qua các khóa học về chính trị và kinh tế, có khả năng mang lại nhiều giá trị hơn cho một công ty công nghệ thông tin đang có nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh trong khu vực.

Giáo dục khai phóng đào luyện con người để họ phát triển khả năng lĩnh hội những điều mới và áp dụng chúng một cách nhanh chóng.

Nguồn tham khảo bài viết:  

https://www.channelnewsasia.com/news/singapore/commentary-a-liberal-arts-education-in-singapore-and-the-10155030

Ảnh tham khảo: Yale-NUS’ Facebook page

Đăng ký thông tin