30 Tháng năm, 2019

Đổi mới Giáo dục đại học: Chuyện từ Harvard đến Fulbright Việt Nam

30 Tháng năm, 2019

Tư duy giáo dục và giá trị tấm bằng ngày nay rất khác cách đây 20 năm. Không thể có một công việc làm cả đời và giáo dục phải giúp con người có hành trang thích ứng những biến động, thay đổi.

Tiến sĩ Timothy B. Brown (Tim) có nhiều năm làm việc ở châu Á – Thái Bình Dương để thúc đẩy mô hình và triết lý của đại học Harvard về giáo dục khai phóng. Gần đây, ông đảm nhiệm vai trò là Giám đốc điều hành, phụ trách Phát triển và Quản lý Cựu sinh viên khu vực Châu Á – Khoa Nghệ thuật và Khoa học – Đại học Harvard. 

Tiến sĩ Timothy B. Brown (phát biểu), Chủ tịch Đại học Fulbright Đàm Bích Thuỷ (trái)

Harvard luôn được biết đến và nể trọng khắp thế giới bởi thuộc nhóm đại học “tinh hoa của tinh hoa” – nhóm Ivy League (8 trường đại học có lịch sử tồn tại lâu đời nhất, xếp hạng cao nhất nước Mỹ). Với hơn 380 năm phát triển, trải qua cả những biến động để tạo danh tiếng,Tiến sĩ Browncho hay, Harvard ý thức không đứng trên tháp ngà học thuật mà ngủ quên với chiến thắng. 

Những thế kỷ đầu ở Mỹ, giáo dục đại học thường chỉ giành cho thành phần ưu tú, có thu nhập khá giả, với khoảng 3% dân số có bằng đại học. Harvard ngày nay tiệm cận đại chúng nhiều hơn, phản ánh hơi thở cuộc sống nhiều hơn nhưng bối cảnh thế kỷ 21 với những thay đổi không ngừng diễn ra, đặc biệt dưới tác động vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, tổ chức giáo dục này cũng trăn trở việc định hình lại niềm tin giáo dục.

Ông Brown nêu bật đặc trưng giáo dục khai phóng dạy những kỹ năng giúp người học có thể thành công trong bất kỳ môi trường nghề nghiệp nào. Và sứ mệnh của giáo dục đại học xét cho cùng để “giúp cho người học hiểu được và quản lý được những thay đổi đang diễn ra trong xã hội”. 

“Người học giáo dục khai phóng gặp áp lực lớn về việc muốn theo học để làm công việc cụ thể. Harvard cũng đối diện với những thách thức duy trì sứ mệnh giáo dục bên cạnh cân bằng nhu cầu của người học”, ông cho hay. Và, tổ chức này cũng vật lộn với thách thức về ngân sách hoạt động. 

Đại học Harvard là một trường khai phóng điển hình yêu cầu sinh viên phải học nội trú. Mô hình nội trú rất tốn kém, đòi hỏi nguồn nhân lực phục vụ rất lớn. Trong khi đó, chương trình hỗ trợ tài chính theo hoàn cảnh kinh tế gia đình đã thu hút nhiều sinh viên bình thường, có hoàn cảnh khó khăn. 

Ông Brown cho hay, Chủ tịch đại học Harvard muốn định hình lại niềm tin của giáo dục đại học. Tư duy giáo dục và giá trị tấm bằng ngày nay rất khác cách đây 20 năm.

Ngày xưa, tấm bằng có giá trị, học kỹ sư ra trường làm kỹ sư, hay một người làm một công việc có thể gắn bó cả đời. Tác động của cách mạng công nghệ khiến cách thức vận hành truyền thống không còn thích hợp. Không thể có một công việc làm cả đời và giáo dục phải giúp con người có hành trang thích ứng với những thay đổi.

“Chuỗi Thảo luận” tháng 4 – Chủ đề: Tương lai của giáo dục đại học, do Câu lạc bộ Cựu sinh viên Harvard và Trường đại học Fulbright Việt Nam tổ chức

“Người đứng đầu Harvard trăn trở làm thế nào để Harvard đến với đại chúng nhiều hơn, phản ánh hơi thở cuộc sống nhiều hơn? Ngoài giáo dục truyền thống, Harvard đang phát triển không gian học trực tuyến.

Những thử nghiệm, cạnh tranh để tồn tại dựa trên nhu cầu luôn đặt mình vào đổi mới, không đứng trên tháp ngà mà ngủ quên trong chiến thắng. Họ muốn chứng minh sự tin tưởng của công chúng dành cho Harvard qua hàng trăm năm luôn có cơ sở”, ông Brown cho hay. 

Câu chuyện cách Harvard nửa vòng trái đất

Ở bên này bán cầu, hơn 20 năm trước, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) bắt đầu ở Việt Nam với mục tiêu đơn giản là dạy những kiến thức tốt nhất, cập nhật nhất về kinh tế thị trường cho cán bộ nhà nước, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. 

Ông Thomas Valleyly, Giám đốc Chương trình Việt Nam học – Đại học Harvard, người sáng lập FETP (ông Vallely cũng là Chủ tịch Quỹ tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV – quỹ đầu tư của Đại học Fulbright) đã mang đến chương trình giảng dạy của Trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy. 

Sau hơn 20 năm hợp tác thông qua Đại học Kinh tế TP.HCM, FETP đã phát triển thành mô hình giảng dạy và nghiên cứu chính sách công hàng đầu của Việt Nam và là nền móng quan trọng xây dựng nên đại học Fulbright Việt Nam.

Nhưng khi xây dựng Đại học Fulbright Việt Nam, Chủ tịch Đàm Bích Thuỷ cho hay, những người sáng lập từng đặt vấn đề: Liệu họ có nên nhập khẩu mô hình của Harvard một lần nữa để ứng dụng cho đào tạo đại học ở Việt Nam, thời điểm Việt Nam đã đổi mới, phát triển kinh tế xã hội, hội nhập sâu rộng vào toàn cầu, rất khác với bối cảnh của FETP hơn 20 năm trước. 

“Chúng tôi băn khoăn dạy cho sinh viên những gì để không bị lạc hậu nhanh chóng bởi thay đổi của công nghệ. Fulbright quyết định theo đuổi mô hình giáo dục khai phóng của Mỹ và thực hiện những sáng tạo giáo dục đại học trên nền tảng này, định nghĩa lại giáo dục đại học.

Chúng tôi coi đây là cơ hội có một không hai để xây dựng một mô hình đào tạo đại học có thể giúp cho người học thích ứng được những biến đổi nhanh chóng trong thế kỷ này” – bà Thuỷ cho biết.

Chia sẻ câu chuyện Năm học Đồng kiến tạo –năm học nền tảng xây dựng đại học nhằm thử nghiệm những sáng tạo, đổi mới giáo dục đại học, Chủ tịch Đại học Fulbright cho hay, Fulbright đã chứng minh nhiều giả định của xã hội về giáo dục không còn đúng.

Ngay cả những quan niệm về học sinh Việt Nam nói riêng, châu Á nói chung như cách đây hơn 20 năm cũng không còn đúng. Sinh viên châu Á, sinh viên Việt Nam ngày nay có thể tiếp cận nhanh chóng công nghệ hiện đại không thua kém sinh viên ở nước ngoài, và họ cũng không kém cỏi về Tiếng Anh, nhút nhát thụ động tiếp thu kiến thức một chiều từ giảng viên. 

Nếu các dự báo tương lai về những thay đổi mạnh mẽ của toàn cầu dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ là đúng, bà Thủy cho rằng, đại học cần dạy cho họ những kỹ năng có thể đương đầu đổi thay.

Thay vì dạy cách trả lời câu hỏi/vấn đề như trước đây, ngày nay người học cần được dạy cách đặt câu hỏi/đề bài, để từ đó chủ động tìm tòi các cách giải khác nhau.  

Chủ tịch Đại học Fulbright dẫn ra một ví dụ về cách thức tiếp cận của Fulbright trong việc thu hẹp khoảng cách của giáo dục và yêu cầu thực tiễn xã hội, đó là đưa doanh nghiệp, người sử dụng lao động vào trong đào tạo, xây dựng khung chương trình, kỹ năng, trải nghiệm của sinh viên để đo lường hiệu quả đào tạo. 

“Fulbright muốn thay đổi quan điểm của nhà tuyển dụng, như không phải công ty công nghệ chỉ tập trung vào tuyển các em học khoa học máy tính. Thay vì tuyển dụng tập trung vào bằng cấp, chuyên ngành của sinh viên, họ sẽ nhìn vào những kỹ năng sinh viên học được là gì”.

Mô hình và triết lý giáo dục khai phóng của Fulbright thực tế không khác nhiều so với các đại học nhóm hàng đầu ở Mỹ. Về cơ bản, đó là mô hình giáo dục hướng đến cung cấp cho các cá nhân một nền tảng kiến thức rộng cùng năng lực cảm thụ các giá trị đạo đức nhân văn và những kỹ năng giúp họ chuyển đổi trong bất kỳ môi trường nào. 

“Người học tiếp cận với nhiều lĩnh vực trước khi đi sâu vào chuyên ngành, nhờ đó họ có khả năng làm việc trong nhiều lĩnh vực và thích ứng tốt hơn trong thời đại công nghệ,” Chủ tịch Đại học Fulbright Đàm Bích Thủy nói.

Fulbright dành 18 tháng đầu để trang bị phông kiến thức rộng cho sinh viên với nhiều môn bắt buộc từ khoa học tự nhiên đến xã hội –  nhân văn, kỹ thuật và toán. Tiếp theo đó sinh viên có thể tự đánh giá thế mạnh và sở thích của mình để lựa chọn chuyên ngành. Sau đó họ sẽ hoàn thành một dự án cuối cùng (capstone project) trước khi tốt nghiệp. 

“Giáo dục khai phóng là giúp người học khả năng tiếp cận với nhiều lĩnh vực trước khi họ nhận biết mình nên đi sâu vào lĩnh vực gì. Kể cả khi đã chọn, họ cũng không phải hy sinh các thói quen hay niềm đam mê nào đó. Một người học chuyên ngành máy tính vẫn có quyền hiểu biết về âm nhạc hoặc hội họa; người muốn làm ngân hàng cũng không phải từ bỏ ước mơ, hiểu biết về lĩnh vực tâm lý…

Như thế, ngay cả khi đã chọn chuyên ngành, sinh viên cũng không nhất thiết phải làm việc đúng chuyên ngành nhưng họ vẫn phát huy được tố chất và năng lực cá nhân ở các lĩnh vực khác,” theo bà Thủy.

Chủ tịch đại học Fulbright cho rằng, điều này giúp giải quyết được bài toán thường gặp trong giáo dục ở Việt Nam hay châu Á. Đó là kỳ vọng của phụ huynh về tương lai nghề nghiệp của con cái và ước mơ của con cái họ thường không trùng khớp nhau. 

“Với mô hình giáo dục của Fulbright, chúng tôi hy vọng giúp cho cả phụ huynh và học sinh đều cảm thấy yêu cầu và đam mê của hai bên không loại trừ lẫn nhau, mà có thể tồn tại và phát triển song song”.

*Bài viết dựa trên những trao đổi của Tiến sĩ Timothy B. Brown và Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam Đàm Bích Thuỷ với công chúng trong “Chuỗi Thảo luận” tháng 4 – Chủ đề: Tương lai của giáo dục đại học, do Câu lạc bộ Cựu sinh viên Harvard và Trường đại học Fulbright Việt Nam tổ chức. 

Related Articles

Đăng ký thông tin