“Tôi cho rằng, các nhà sử học tương lai sẽ nhìn lại sự kiện này như một khoảnh khắc mang tính chuyển giao, khi các giá trị Á Đông được coi trọng hơn đơn giản vì chúng hiệu quả, với tiềm năng hiện thực hóa một viễn cảnh quốc tế vượt ra khỏi hệ tư tưởng tân tự do. Nhưng cũng có thể, họ sẽ nhìn lại và nói rằng, đây là thời khắc các quốc gia chuyển sang chế độ giám sát dân tộc độc đoán, đánh dấu sự kết thúc của chủ nghĩa tân tự do.”

Ngày 24 tháng 5 năm 2020, Tiến sĩ Michael Puett, Giáo sư về Lịch sử và Nhân học Trung Hoa tại Đại học Harvard đã có những chia sẻ về chủ đề “Quản lý nhà nước, hệ giá trị và những điều thế giới có thể (hay không thể) học được từ Châu Á”. Buổi thảo luận do Giáo sư Nguyễn Nam của Đại học Fulbright Việt Nam điều phối, xoay quanh cách phản ứng của các chính phủ trên thế giới đối với dịch COVID-19. Sự kiện nằm trong chuỗi thảo luận với diễn giả do Fulbright khởi xướng nhằm thúc đẩy đàm thoại về khủng hoảng COVID-19, tạo cầu nối giữa các chuyên gia, học giả và nhà hoạch định chính sách toàn cầu với công chúng ở Việt Nam cũng như công chúng quốc tế.

Rõ ràng, các xã hội Đông Á như Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đã kiểm soát dịch hiệu quả hơn nhiều so với các xã hội phương Tây như Hoa Kỳ, Ý, Vương quốc Anh hay Pháp. Liên quan đến vai trò của chính phủ trong xã hội, Tiến sĩ Puett phân tích những khác biệt căn bản trong hệ tư tưởng khiến cho một số xã hội được trang bị khả năng ứng phó với khủng hoảng tốt hơn so với những xã hội khác. Theo ông, đây là khoảnh khắc chuyển dịch cán cân ý thức hệ, mang ý nghĩa tái định hình thế giới hậu đại dịch.

Chủ nghĩa Tân tự do, từ khi ra đời ở Đế quốc Anh…

Mở đầu, Giáo sư Puett đã tóm lược từ bối cảnh lịch sử và sự ra đời của chủ nghĩa tự do cổ điển tại Anh vào thế kỷ 19, cho đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa tân cổ điển trở thành hệ tư tưởng thống trị, hay thậm chí là hệ tư tưởng duy nhất trong nền chính trị phương Tây hiện đại. Theo ông Puett, đặc điểm nổi bật của hệ tư tưởng này là sự đề cao cá nhân, dẫn đến mục đích của nó là tạo ra một nền kinh tế, chính trị và xã hội trong đó mỗi cá nhân được phép tự do theo đuổi lợi ích của riêng mình, với giới hạn duy nhất là sự mưu cầu lợi ích của những cá nhân khác. Nhưng làm thế nào để tạo ra xã hội lý tưởng này?

Vào thời điểm đó, một số doanh nhân đã trở nên rất giàu có nhờ vào cơ chế thị trường. Do đó, tư tưởng tân tự do then chốt là áp dụng cấu trúc của cơ chế thị trường vào những khía cạnh khác trong xã hội, thiết lập toàn bộ trật tự chính trị xã hội dựa trên cùng một tầm nhìn. Việc cho phép các lực lượng thị trường tác động đến mọi cấp độ xã hội đòi hỏi giới hạn về quy mô của chính phủ và giảm thiểu sự can thiệp, điều chỉnh. Một cách lý tưởng, chính phủ sẽ không kiểm soát thị trường. Thay vào đó, thị trường sẽ điều tiết xã hội, của cải vật chất sẽ trở thành thước đo năng lực và phẩm chất cá nhân. “Những người thành công trên thị trường sẽ đạt được vị thế cao trong xã hội, đồng thời có khả năng tiếp cận trực tiếp đến quyền lực chính trị, sử dụng tiền của của họ để tác động đến các chính sách trong tương lai. Về lý thuyết, những cá nhân hay tập đoàn giàu có là những người hiểu rõ nhất về cách thị trường hoạt động. Điều này được minh chứng rõ nhất ở Hoa Kỳ ngày nay, khi chính quyền các bang bị chi phối bởi các doanh nhân và tập đoàn thông qua vận động hành lang”, Tiến sĩ Puett nhấn mạnh.

Professor Michael Puett

Tuy nhiên, ông giải thích, hệ tư tưởng này ra đời trong bối cảnh thời gian và không gian rất cụ thể. Tư tưởng tự do cổ điển nảy sinh tại Đế quốc Anh, trong thời kỳ chênh lệch kinh tế sâu sắc giữa tầng lớp thống trị giàu có và đại đa số dân chúng đói nghèo. “Hãy nhớ rằng, vào thời điểm chủ nghĩa tự do cổ điển và tân cổ điển hình thành ở Anh, đất nước này đang đứng trên đỉnh cao sức mạnh. Thông qua mấu chốt là thị trường tự do, nhiều quốc gia trên thế giới đã trở thành nguồn nguyên liệu thô và lao động rẻ mạt đáp ứng cho các quốc gia và tập đoàn phương Tây, chủ yếu là Vương quốc Anh khi đó với tư cách là đế chế thống trị. Không quá ngạc nhiên khi chủ nghĩa này hồi sinh cùng với những hệ quả tương tự của nó tại cường quốc hàng đầu thế giới hiện nay là Hoa Kỳ.”

… đến hệ tư tưởng chi phối toàn cầu

Ban đầu, chủ nghĩa Tân tự do chưa được chấp nhận ngay lập tức. Sau Thế chiến thứ 2, người ta thừa nhận rằng “vai trò can thiệp và điều tiết kinh tế của nhà nước cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng là vô cùng quan trọng”. Đến thời Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Tổng thống Mỹ Ronald Reagan những năm 1970-80, chủ nghĩa tân tự do mới bắt đầu trỗi dậy. Tuy nhiên, sự chuyển biến rõ rệt nhất xuất hiện vào những năm 90, dưới thời các nhà lãnh đạo cánh tả ôn hòa như Tony Blair (Anh) và Bill Clinton (Mỹ) vào. Họ đã mang những tư tưởng vốn được coi là thuộc về cánh tả và tuyên bố, chủ nghĩa tân cổ điển không chỉ là một hệ tư tưởng chính trị tốt, mà là hệ tư tưởng đúng đắn cho cả hai phe.

“Một trong những tuyên bố đáng nhớ nhất của Margaret Thatcher là đây ‘không phải là một hệ thống tốt, thậm chí không phải là hệ thống tốt nhất. Đây là hệ thống duy nhất.’ Không có lựa chọn nào khác. Thật rùng mình khi nghĩ rằng một phần nào đó, tư tưởng này đã trở thành tầm nhìn được chấp nhận bởi đa số giới tinh hoa toàn cầu”, Michael Puett nhớ lại.

Sự đồng thuận chính trị mới và bền vững này đã dẫn đến tái sắp xếp trật tự xã hội ở Mỹ và Anh. Trên cơ sở này, chính phủ cũng vận hành trên các nguyên tắc thị trường, cùng với đó là y tế, giáo dục, và thậm chí các gia đình cũng chịu sự chi phối bởi thị trường cạnh tranh. “Chẳng hạn, các trường học sẽ đào tạo học sinh tư duy một cách cạnh tranh về chính lợi ích cá nhân của mình, nhằm giúp học sinh trở thành những doanh nhân thành đạt sau này”, Tiến sĩ Puett nói.

Các tổ chức toàn cầu tiếp tục góp phần thiết lập hệ tư tưởng này trên toàn thế giới. Tiến sĩ Puett dẫn ví dụ về Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nơi thiết lập điều kiện để các quốc gia tham gia vào thị trường toàn cầu mới này. Cụ thể, phải hạn chế quyền lực nhà nước: các quy định về mọi khía cạnh, từ an toàn lao động đến phân biệt đối xử hay đảm bảo về môi trường đều phải được bãi bỏ để nhường chỗ cho các nguyên tắc thị trường. Tuy nhiên, hệ tư tưởng này có lẽ đang bị lung lay bởi cách đối phó thiếu hiệu quả ở Mỹ và châu Âu trước cuộc khủng hoảng COVID.

“Những chiến lược này từng thành công đến nỗi các nguyên tắc thị trường thế kỷ 21 của phương Tây đã thực sự trở thành quan điểm thống trị trên toàn thế giới. Nhưng ngay bây giờ, chúng ta có thể đang chứng kiến ​​sự khởi đầu của một cách tổ chức đời sống kinh tế và chính trị xã hội rất khác, tiếp thu thành công của các nước Đông Á.”

Tách bạch nhà nước và thị trường: Bối cảnh tại các quốc gia Đông Á

Giáo sư Puett đã có những chia sẻ về lý thuyết chính trị ở châu Á. Trái ngược với một mô hình đề cao cá nhân, vốn “không có nhiều tiếng vang trong lịch sử Đông Á”, hầu hết các hệ tư tưởng nổi bật trong lịch sử đều dựa trên các mối quan hệ. Nói cách khác, nếu điểm gốc rễ nằm ở các mối quan hệ chứ không phải lợi ích cá nhân, câu hỏi được đặt ra là: Những mối quan hệ nào nguy hiểm? Và mối quan hệ nào sẽ giúp nhân loại phát triển?

Giáo sư nhấn mạnh: hầu hết các mô hình chính trị và xã hội này chỉ ra rằng, nhiều mối quan hệ con người vốn không bền vững và đòi hỏi những nỗ lực liên tục để thay đổi và cải thiện. Con người được tạo nên từ vô số mối quan hệ, từ quan hệ gia đình, bạn bè, các cấp bậc tổ chức khác nhau… “Dưới quan điểm này, không nên chỉ có một ý thức hệ duy nhất chi phối mọi mặt của cuộc sống. Không một hệ tư tưởng nào có thể thúc đẩy các mối quan hệ tốt đẹp trong mọi lĩnh vực, từ gia đình đến chính trị hay kinh tế.” Mặc dù TS. Puett thừa nhận thị trường đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng phi mã của các nền kinh tế Đông Á, mấu chốt nằm ở quan điểm, thị trường nên tồn tại một cách riêng biệt.

Giáo sư Puett trong chuyến thăm Fulbright thang 1, 2019

Thay vào đó, các nguyên tắc công bằng nên được áp dụng để lựa chọn giới cầm quyền bên ngoài thị trường, tách biệt tối đa tầng lớp giàu có về vật chất với tầng lớp công chức và trí thức. “Khi động cơ chuyển dịch xã hội là giáo dục chứ không phải thị trường, nó trở thành cơ chế riêng biệt để đạt được quyền lực chính trị”, TS Puett giải thích. Như vậy, các nhà lãnh đạo tương lai sẽ hiểu rằng sự thăng tiến phụ thuộc vào hệ thống kiểm tra và đánh giá phẩm chất lãnh đạo. Các quan chức chính phủ cũng có thể được luân chuyển về vị trí địa lý khác, ngăn không cho họ liên kết quá mức với các mạng lưới quyền lực địa phương.

Đối với Giáo sư, sự tách biệt rõ ràng này cho phép nhà nước tổ chức và thực hiện các dự án đi ngược lại trật tự tự nhiên của thị trường, như các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn. “Hơn nữa, việc thi công cầu đường cũng sẽ đem lại những thay đổi lớn và mở ra cơ hội cho nhiều người khác. Các nhóm quyền lực địa phương có thể không muốn thấy vị thế của mình bị mất đi. Nhưng nhà nước không cần phải lo lắng về điều đó”, ông giải thích.

Những hệ quả tương phản trong đại dịch

Từ các biện pháp phong tỏa quyết đoán chấp nhận hy sinh về mặt kinh tế, xây dựng khẩn cấp bệnh viện dã chiến ở Vũ Hán bằng ngân sách nhà nước, cho đến triển khai xét nghiệm rộng rãi, theo dõi và chăm sóc y tế công cộng, các biện pháp hiệu quả nhất trong việc ngăn chặn dịch bệnh là cần đến sự hành động nhanh chóng của một chính phủ không bị cản trở bởi các lực lượng thị trường. Như Giáo sư Puett trình bày, đây là yếu tố quyết định giúp các nước Đông Á kiểm soát dịch bệnh. “Các quốc gia với tầng lớp tinh hoa được chọn lọc theo thực lực và có sức mạnh triển khai các chiến lược ​​quy mô lớn của chính phủ đã đối phó cực kỳ thành công với cuộc khủng hoảng”, ông Puett kết luận.

Trong khi đó, hậu quả của hệ tư tưởng tân tự do ở phương Tây là thảm họa, bởi các cơ quan cấp quốc gia, sau nhiều năm bị hạn chế quyền lực, đã không còn được trang bị đầy đủ. Như Tiến sĩ Puett giải thích, “sau nhiều năm bị cắt giảm kinh phí, khu vực nhà nước không thể thu hút nhân lực giỏi, dẫn đến việc chính phủ thiếu cả tài lực và nhân lực để có thể đối phó một cách quyết đoán và hiệu quả”,

Bất bình đẳng kinh tế nghiêm trọng càng làm trầm trọng thêm sự khó khăn của người nghèo và các nhóm thiểu số. “Những nhóm người vô gia cư, những người khốn cùng đã không nhận được bất kỳ hình thức hỗ trợ nào, và hậu quả là vô cùng nghiêm trọng. Hệ thống y tế phục vụ rất tốt cho giới thượng lưu giàu có, nhưng lại vô cùng tệ hại với những người còn lại. Mặt trái của chủ nghĩa tân tự do giờ hiển hiện hết sức rõ ràng”, chuyên gia nhấn mạnh.

Nhưng sự thay đổi không phải là không có rủi ro.

Cơ hội và rủi ro tương đương

“Sự biến chuyển luôn song hành cùng rủi ro”, Michael Puett tuyên bố. Thật vậy, COVID-19 không chỉ cho thấy lợi ích của việc quản lý nhà nước chặt chẽ. Nó còn làm thay đổi thái độ của người dân đối với việc giám sát.

Puett cảnh báo về sự nguy hiểm của “chủ nghĩa pháp lý”, một hệ tư tưởng có tính chi phối ở Trung Quốc. Nếu chủ nghĩa tân tự do cho rằng thị trường là giải pháp cho mọi thứ, thì chủ nghĩa pháp lý đề cao sự kiểm soát toàn diện của nhà nước. Hiện nay, COVID-19 dẫn đến xu hướng phát triển các công nghệ giám sát mới. “Bên cạnh các dự án phát triển cơ sở hạ tầng đầy triển vọng, Trung Quốc còn chứng kiến ​​sự phát triển của một nhà nước giám sát hoạt động thông qua các thuật toán do Google phát triển nhằm theo dõi toàn bộ di chuyển của công dân, từ những người họ trò chuyện cùng đến những người họ gặp gỡ.”

Những công nghệ này có thể giúp ích cho việc đối phó với đại dịch trên quy mô toàn quốc, như ứng dụng theo dõi tiếp xúc, nhưng một khi khủng hoảng qua đi, điều đáng lo ngại là chúng sẽ khó lòng được dỡ bỏ. “

“Ngày càng có nhiều tiếng nói có tầm ảnh hưởng ở Mỹ cho rằng, có lẽ, những biện pháp giám sát của chính phủ Trung Quốc cũng nên được áp dụng tại đây”, TS. Puett cho biết. Tuy nhiên, ông cho rằng rất cần thận trọng: “Nhiều quốc gia Đông Á khác cũng đã thành công trong kiểm soát dịch bệnh, nhưng dường như những công nghệ giám sát từ Trung Quốc được nước Mỹ quan tâm hơn cả như là một lời đáp trả đối với chủ nghĩa tân tự do”

Khép lại phiên thảo luận, Tiến sĩ Puett nhấn mạnh về tầm quan trọng của một cuộc tranh luận toàn cầu nhằm giải quyết đại dịch, nhưng cũng cần suy xét nghiêm túc, những kinh nghiệm nào từ Đông Á nên được áp dụng, và việc thực hiện chúng có ý nghĩa gì. “Trước những thách thức mà cả phương Đông và phương Tây cùng phải đối mặt, cả cuộc khủng hoảng này, khủng hoảng môi trường nhãn tiền và một thế giới bất định, chúng ta cần cởi mở với những hệ tư tưởng này và suy xét lại, đặt câu hỏi về chính những giả định căn bản nhất, đồng thời cân nhắc thấu đáo những gì là cần thiết để xây dựng một trật tự quốc tế toàn cầu.”

Antoine Touch – Anh Thư

Giáo sư Michael Puett, người dạy lớp “Các lý thuyết chính trị và đạo đức của Trung Hoa cổ điển” tuyên bố: “Khoá học này sẽ thay đổi cuộc đời bạn”.

 Hãy thử hình dung một thế giới mà trong đó các mối quan hệ giữa người và người bị thử thách, các cá nhân ngày càng tự cao tự đại và chỉ biết đến bản thân, cũng như có một sự bất đồng về việc làm thế nào chúng ta có thể sống một cách hòa hợp với nhau.

Tất cả những điều trên nghe như là đang mô tả nước Mỹ trong thế kỉ 21. Nhưng một xã hội mà Michael Puett, vị giáo sư 48 tuổi với cặp kính cận chuyên về ngành Lịch sử Trung Hoa tại Đại học Harvard mô tả cho 700 sinh viên trường này đang chăm chú lắng nghe lại là xã hội Trung Quốc.

Khóa học “Các tư tưởng chính trị và đạo đức Trung Hoa cổ điển” đã trở thành khóa học được yêu thích đứng thứ ba ở trường đại học Harvard. Khóa học này chỉ đứng sau “Nhập môn Kinh tế học” và “Nhập môn Khoa học Máy tính” về số lượng sinh viên đăng ký theo học. Năm 2007, khi khóa học này được tổ chức lần thứ hai, số lượng sinh viên đăng ký đông đến nỗi mà tại giảng đường, các sinh viên ngồi cả lên bục giảng, lên cầu thang và thậm chí dạt ra ngoài hành lang. Sau đó, Harvard chuyển lớp học này sang Sanders Theater, giảng đường lớn nhất tại Harvard.

Tại sao nhiều sinh viên lại sẵn sàng dành cả một học kỳ để chìm đắm vào những khái niệm triết học Trung Hoa dường như rất khó hiểu được luận bàn bởi những học giả sống cách chúng ta hàng ngàn năm trước? Một lý do đơn giản là lớp học này là một trong những lớp học có thể đáp ứng tín chỉ bắt buộc cho môn Lý luận Đạo Đức (Ethical Reasoning). Tuy nhiên một điều rõ ràng rằng các sinh viên cũng bị hấp dẫn bởi một lời hứa “có một không hai” của giáo sư Puett: “Khóa học này sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn”.

Các học sinh của giáo sư Puett nói với tôi rằng điều đó là sự thật: rằng Giáo sư Puett dùng Triết học Trung Hoa để cung cấp cho sinh viên những ý tưởng cụ thể, khác thường và thậm chí mang tính cách mạng để chỉ ra cho họ cách sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. Elizabeth Malkin, một sinh viên tham dự lớp học này có nói: “Lớp học này đã hoàn toàn thay đổi cách nghĩ của tôi về bản thân về những người xung quanh cũng như cách tôi nhìn nhận thế giới”. Giáo sư Puett cung cấp một cách diễn giải mới về những câu hỏi mà các học giả Trung Hoa đã trăn trở cách đây hàng thế kỷ.

Ông yêu cầu sinh viên của mình phải đọc sâu hơn các trước tác (thông qua bản dịch) như Luận Ngữ của Khổng Tử, Mạnh Tử và Đạo Đức Kinh của Lão Tử rồi chủ động áp dụng kiến thức đó vào cuộc sống hằng ngày. Bải giảng của ông ấy áp dụng trong hoàn cảnh cuộc sống Mĩ hiện đại để giúp các học trò trong lứa tuổi đôi mươi – những người đang đấu tranh để tìm kiếm vị trí của mình trên thế giới – xác định được cách trở thành người tốt; cách tạo ra một xã hội tốt đẹp hay để có một cuộc sống viên mãn.

Puett chia sẻ, so với cách đây 20 năm khi mới bắt đầu vào nghề, ông đang thấy ngày càng nhiều sinh viên “cảm thấy bị thúc ép phải chọn một hướng đi nhất định để theo đuổi mục tiêu nghề nghiệp cụ thể”. Một báo cáo gần đây chỉ ra số lượng sinh viên Harvard lựa chọn học chuyên ngành nhân văn tuột dốc trầm trọng trong thập kỉ vừa qua. Tài chính vẫn là ngành được các sinh viên Harvard ưa chuộng nhất. Puett chứng kiến nhiều sinh viên định hướng mọi khoá học và thậm chí cả các hoạt động ngoại khoá theo những mục tiêu và kế hoạch sự nghiệp đã được quyết định trước và mang tính thực dụng.

Puett nói với sinh viên của mình rằng việc luôn tính toán cẩn thận mọi việc theo kế hoạch thực chất lại là cách làm sai lầm khi phải đưa ra bất kỳ quyết định quan trọng nào trong đời. Các triết gia Trung Hoa xưa mà bạn đang đọc sẽ nói rằng, chiến lược này sẽ ngăn bạn trở nên cởi mở trước những thay đổi có thể không đi theo kế hoạch.

Sinh viên sống theo kế hoạch “dễ bỏ qua những điều có ý nghĩa mỗi ngày, vốn có thể tiếp thêm sinh lực, truyền cảm hứng và đem lại cuộc sống trọn vẹn, thú vị hơn”. Nếu những gì khiến cho một sinh viên cảm thấy hứng thú lại không phải là điều mà anh ta đã quyết định rằng đó mới là tốt nhất cho mình, anh ta sẽ bị mắc kẹt trên con đường bị lầm lối ngay từ ban đầu và bắt đầu một sự nghiệp không toại nguyện. Puett mong muốn khai mở cho sinh viên một cách tiếp cận khác đối với mọi việc trong cuộc sống, từ các mối quan hệ đến các quyết định công việc.

Ông ấy khuyên rằng: Những hành động nhỏ nhất để lại hệ quả sâu sắc nhất. Khổng Tử, Mạnh Tử và các nhà thông thái Trung Hoa khác đã dạy môn đệ rằng những hành động tưởng như bình thường nhất đều có thể tạo nên một tác động lan tỏa. Puett hối thúc sinh viên trở nên có ý thức hơn về bản thân, và để ý tới cách mà kể cả những cử chỉ thường ngày – như giữ cửa mở cho ai đó, mỉm cười với người bán hàng ở tiệm tạp hóa – có thể ảnh hưởng đến cả một ngày của chúng ta như thế nào, thông qua tác động của chúng lên tâm trạng của ta.

Cảm giác hài lòng khi chúng ta hoàn thành bài tập thể dục hằng ngày, cuộc nói chuyện thú vị với một người bạn tốt, hoặc một chút giận dữ mà chúng ta cảm thấy khi có người chen hàng – những điều này đóng vai trò gì trong cuộc đời của mỗi cá nhân? Chúng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Xét trên quan điểm triết học Trung Hoa, những chuyện nhỏ hằng ngày như thế này cho chúng ta vô vàn cơ hội để hiểu bản thân mình.

Khi chúng ta biết là điều gì sẽ làm chúng ta vui mừng, hạnh phúc hoặc giận dữ, chúng ta có thể có cách để tự giúp mình tiếp cận những tình huống đó một cách tích cực hơn. Mạnh Tử, một học trò của Khổng Tử có dạy rằng nếu chúng ta biết cách rèn bản thân mình từ những điều nhỏ nhất, chúng ta có thể trở thành một người tuyệt vời với những khả năng ảnh hưởng lớn đến người xung quanh, có khả năng thay đổi cuộc đời mình và những người khác, và đến một lúc nào đó chúng ta có thể “nắm cả thế giới trong lòng bàn tay mình”.

Các quyết định phải được đưa ra bởi trái tim. Người Mỹ cho rằng con người là những thực thể lý trí, đưa ra quyết định dựa trên logic, sử dụng bộ óc của mình. Nhưng trong tiếng Trung Quốc từ “Trí óc” và “Trái tim” là một từ chung (Tâm). Giáo sư Puett chia sẻ với chúng ta rằng trí óc và trái tim là không thể tách rời, không thể tồn tại riêng biệt.

Bất cứ khi nào chúng ta đưa ra quyết định từ những vấn đề bình thường nhất cho đến những vấn đề sâu sắc nhất (tối nay ăn gì, học môn gì trong kỳ tới, chọn nghề nghiệp như thế nào, chọn bạn đời ra sao) chúng ta sẽ đưa ra được quyết định tốt hơn nếu chúng ta biết kết hợp cả trí óc và trái tim cũng như để lý trí và tình cảm hòa quyện làm một.

Trang Tử, một triết gia Đạo giáo khuyên rằng: Chúng ta cần tu luyện bản thân để trở nên “linh hoạt” thông qua mỗi hoạt động thường ngày hơn là đóng cửa bản thân mình thông qua những thứ mà chúng ta nghĩ như phần quyết định từ lí trí. Giống như cách một người tập luyện dương cầm để có thể chơi những bản nhạc thật tự nhiên, chúng ta tu dưỡng bản thân mình hàng ngày để trở nên cởi mở với những trải nghiệm cũng như đối mặt với những vấn đề muôn màu muôn vẻ của cuộc sống. Khi đó, cuối cùng câu trả lời và những quyết định đúng đắn sẽ đến một cách tự nhiên từ trái tim và lí trí, không hề có sự can dự của âu lo.

Các nghiên cứu gần đây về khoa học thần kinh xác nhận rằng các nhà triết học Trung Quốc đã đúng: Những thí nghiệm quét não tiết lộ nhận thức phi lí trí của ta về cảm xúc và những sự việc xung quanh mới là thứ thúc đẩy ta hành động theo hướng mà ta cứ nghĩ là lí trí.

Theo Marianne LaFrance, một giáo sư tâm lý học tại Yale, nếu ta thấy một gương mặt hạnh phúc chỉ trong khoảng một phần tư giây, đó đã quá đủ để nảy nở một cao hứng nho nhỏ trong cảm xúc. Ở một nghiên cứu khác, những người tham gia chỉ được thấy thoáng qua một nụ cười, nhanh tới mức họ chưa kịp nhận thức về những gì họ chứng kiến, nhưng vô thức họ vẫn cảm thấy mọi thứ xung quanh tích cực hơn.

Nếu cơ thể dẫn dắt, tâm trí sẽ đi theo.

Hãy cư xử tử tế (ngay cả khi bạn không cảm thấy dễ chịu), hay cười với ai đó (ngay cả khi bạn không cảm thấy đặc biệt thân thiện ở thời điểm đó). Những điều đó có thể tạo nên những khác biệt thực sự trong tâm trạng và hành vi của bạn, thậm chí cuối cùng là thay đổi cả kết quả của một sự việc.

Trong khi tất cả những điều trên nghe có vẻ giống những thông điệp giáo điều vớ vẩn, phần nhiều những gì mà Puett truyền tải đã được công nhận như trí khôn văn hóa vốn bị thất lạc trong kỉ nguyên hiện đại. Aristotle, triết gia Hy Lạp cổ điển nói: “Chúng ta là những gì mà chúng ta thường xuyên làm”. Quan điểm đó cũng được chia sẻ bởi Khổng Tử, người đã dạy về tầm quan trọng của các nghi lễ nằm ở chỗ cách chúng khắc sâu một cảm giác nào đó ở một con người.

Theo nghiên cứu đã được xuất bản trên Tạp chí Khoa học Tâm lý, nhà tâm lý học xã hội Amy Cuddy và cộng sự đã phát hiện ra rằng khi chúng ta có một thế đứng quyền lực (đứng với hai chân vững chãi, cánh tay vươn ra ngoài và chiếm lĩnh không gian), tư thế đó không chỉ khiến người khác nhìn nhận chúng ta tự tin và có uy thế hơn mà nó còn thực sự tạo nên một sự tăng vọt trong nội tiết tố làm chúng ta trở nên tự tin hơn.

Cuối mỗi lớp học, Puett thử thách các sinh viên của mình ứng dụng triết học Trung Hoa được học vào cuộc sống hàng ngày của họ. “Các triết gia Trung Hoa chúng ta đọc chỉ ra cho chúng ta con đường để thực sự thay đổi cuộc sống tốt đẹp hơn từ những điều rất bình thường, thay đổi cách con người trải nghiệm và hồi đáp thế giới xung quanh. Vì thế, những gì tôi cố gắng làm là bắt đầu từ mức độ thấp nhất đó. Tôi không cố gắng rao giảng cho sinh viên của mình những lời khuyên to tát về việc phải làm gì với đời mình. Tôi chỉ muốn gợi lên trong họ một ý niệm về những gì họ có thể thực hiện hằng ngày để thay đổi cách sống.”

Puett giao cho họ những bài tập nho nhỏ: quan sát lần đầu cách họ cảm nhận khi cười với một người lạ, giữ cửa mở cho ai đó, hay bắt đầu thử một sở thích. Vị giáo sư yêu cầu sinh viên ghi chép lại điều xảy ra kế đó: mỗi hành động, mỗi cử chỉ diễn ra hoặc ngôn từ có ảnh hưởng như thế nào đến cách mà người khác đáp lại mình. Sau đó, ông đề nghị họ theo đuổi thêm các hoạt động mà họ nhận thấy giúp bản thân thêm lạc quan và hứng khởi. Ở ghi chú và trong phiên thảo luận, sinh viên sẽ thảo luận việc sống theo sự khuyên nhủ của các nhà triết học Trung Hoa có ý nghĩa như thế nào.

Một khi họ đã hiểu bản thân mình rõ hơn và khám phá ra điều họ yêu thích, về sau họ sẽ trở nên thuần thục hơn trong các hoạt động kể trên thông qua việc thường xuyên thực hành và tự trau dồi bản thân.

Tự tu dưỡng bản thân liên quan đến một quan niệm cổ điển khác của Trung Hoa: Chúng ta không bị giới hạn bởi tài năng bẩm sinh của chính mình; tất cả chúng ta có tiềm năng bất tận để mở rộng khả năng của mình nếu chịu khó trau dồi chúng. Bạn không cần loay hoay làm những thứ bạn tự nhiên đã giỏi; nên tập trung sự chú ý vào điều bạn yêu và tiếp tục tiến lên từ đó. Các triết gia Trung Hoa chỉ ra cho chúng ta rằng để ý đến những đầu mối nhỏ nhặt “có thể từ từ thay đổi mọi thứ mà chúng ta có thể trở thành với tư cách một con người”, Puett nói.

Hãy tập trung vào thực tế hằng ngày và hiểu được những điều vĩ đại bắt đầu từ những hành động bé nhỏ nhất. Đó là những ý tưởng gốc rễ cho người trẻ sống trong một xã hội vốn chỉ quen đặt áp lực về việc phải nghĩ lớn và vươn tới sự xuất sắc.

Điều này, theo tờ Chronicle for Higher Education, lí giải một phần về lý do tại sao ngày càng có nhiều người trên khắp nước Mỹ, chứ không chỉ riêng sinh viên Harvard quan tâm tìm hiểu triết học Trung Hoa. Và đây là thong điệp đặc biệt có ý nghĩa với những ai luôn khao khát tìm kiếm một lựa chọn khác thay vì lối mòn mà họ đã đi trong cả cuộc đời.

Adam Mitchell, một cựu sinh viên của Puett, thần đồng toán và khoa học, đến Harvard với ý định theo đuổi chuyên ngành kinh tế học. Mitchell cho tôi hay, tại Harvard nói riêng và trong xã hội nói chung, “chúng tôi được trông đợi sẽ suy nghĩ về tương lai theo một cách thức lý trí như thế này: tính toán mặt lợi và không có lợi rồi đưa ra quyết định. Điều đó dẫn bạn tới con đường “Chỉ gắn với những gì bạn giỏi sẵn” – một con đường ít rủi ro nhưng cũng hiếm hoi phần thưởng.

Nhưng sau khi Mitchell tham gia lớp học về Triết học Trung Hoa vào năm thứ hai, anh bạn nhận ra rằng đó không phải là con đường duy nhất để nghĩ về tương lai. Thay vì vậy, chàng trai trẻ bắt đầu đăng ký những khoá học mình cảm thấy hấp dẫn nhưng không giỏi sẵn bởi Mitchell đã lĩnh ngộ được việc lao động miệt mài để trở nên giỏi hơn trong những gì bạn yêu thích có ý nghĩa đến dường nào. Anh ta trở nên có ý thức hơn về cách mà mình bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh và ngược lại cách họ bị tác động bởi những hành động của mình như thế nào.

Mitchell đắm mình vào các lớp học ngoại ngữ, cảm nhận thấy các mối quan hệ của mình được làm sâu sắc hơn. Giờ đây, anh bạn đang lấy bằng Thạc sĩ chuyên ngành nghiên cứu khu vực. Mitchell bảo tôi rằng: “Tôi có thể vui vẻ nói rằng Giáo sư Puett đã thực hiện được lời hứa của mình, rằng lớp học ấy đã thực sự thay đổi đời tôi.”

Christine Gross-Loh (Theo The Atlantic)

Minh Châu dịch