Huỳnh Trung Dũng tự nhận mình là người “không có gì đặc biệt” với hơn 12 năm trung thành với một lĩnh vực duy nhất là Chính sách công. Nhưng có lẽ chính hành trình theo đuổi bền bỉ ấy cùng sự tìm về nơi “hợp cá tính” và “phát huy tốt nhất khả năng” của anh làm nên một câu chuyện lý thú và đầy cảm hứng. 

Anh Huỳnh Trung Dũng – giảng viên chính về Chính sách công của Học viện YSEALI và cũng là giảng viên của Trường Chính sách công và Quản lý (FSPPM), Đại học Fulbright Việt Nam

“Chính sách công” là tất cả những gì quanh mình

Ngay từ khi rất trẻ, Huỳnh Trung Dũng đã mong muốn theo đuổi lĩnh vực mà anh có thể đóng góp cho lợi ích chung của xã hội. Mà trong “cái chung” anh đau đáu ấy, giữa công và tư thì khu vực công cần nhiều sự xây dựng và định hướng hơn. 

“Chính sách công là tất cả những gì liên quan đến người dân. Khi thở, ngủ dậy, ở trong nhà hay  bước chân ra đường, chúng ta đều bị ảnh hưởng, đó là Chính sách công” – anh Dũng khẳng định. 

Có những khía cạnh xã hội chỉ có thể điều tiết và giải quyết bằng chính sách nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến những nhóm yếu thế – cộng đồng người có hoàn cảnh đặc biệt, bị hạn chế quyền lợi và điều kiện tiếp cận cơ bản. Theo anh, có ba yếu tố để đánh giá tính hiệu quả của một chính sách công: công bằng, bình đẳng và dài hạn. 

Công bằng về nguồn lực. Ví dụ thành phố Hồ Chí Minh tạo ra hơn 20% GDP, hơn 25% ngân sách cả nước thì nên nhận được nguồn lực tương xứng, nhưng thực tế thì chỉ giữ lại được 18% nguồn thu, 82% còn lại đóng góp cho ngân sách nhà nước. Không công bằng ở đây sẽ ảnh hưởng hiệu quả của việc sử dụng ngân sách, nghĩa là nếu thành phố Hồ Chí Minh giữ lại nhiều hơn thì sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho cả nước từ khoản quỹ đó. 

“Bình đẳng tiếp cận quyền lợi giữa các nhóm trong xã hội, không phân biệt điều kiện tài chính, giới tính, tôn giáo và các khía cạnh khác. 

“Và cuối cùng là tính Dài hạn. Chính sách ban hành trong thời điểm hiện tại cần phải được cân nhắc đến ảnh hưởng của nó trong tương lai. Ví dụ nếu chính sách  nhằm giải quyết vấn đề kinh tế bây giờ nhưng lại gây ra tác hại cho môi trường thì không được vì như thế hậu quả thế hệ tương lai sẽ phải gánh chịu”.

Giáo dục – môi trường thuần khiết

Huỳnh Trung Dũng hiện thực hóa mong muốn của mình với tấm bằng Cử nhân Ngoại thương và Ngoại giao tại Việt Nam. Ngay sau khi tốt nghiệp, anh trải qua tám năm công tác ở Bộ Ngoại giao và Sở ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình công tác tại đây, anh hoàn thành học vị cao học tại Trường Chính sách Công Lee Kuan Yew, thuộc Đại học Quốc gia Singapore. “Singapore có nhiều nét tương đồng với Việt Nam từ địa lý, chính trị đến văn hoá và quan hệ ngoại giao, việc học tập tại đây giúp tôi có thể ứng dụng hiệu quả vào khu vực nhà nước, nơi tôi đang công tác lúc bấy giờ” – anh giải thích. Là người luôn đặt tính thực tiễn và hiệu quả lên hàng đầu, nhưng dự định cống hiến cho khu vực nhà nước khi anh quay trở về Việt Nam lại không diễn ra như anh mong muốn. Nỗi trăn trở về hiệu quả phát triển cho bản thân và cả tổ chức đã đưa Huỳnh Trung Dũng chuyển sang con đường giáo dục – một nơi “hợp tính cách bình lặng, không thích hơn thua” và giúp anh tận dụng tốt nhất những điều mình đã được học và trải nghiệm tại môi trường nước ngoài. 

Anh Huỳnh Trung Dũng (thứ hai từ phải sang) tại Sự kiện Văn hoá Trường Chính sách Công Lee Kuan Yew, Singapore, năm 2008

Con đường giáo dục của Huỳnh Trung Dũng bắt đầu tại Đại học RMIT Việt Nam, sau đó anh tham gia Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (​​Fulbright Economics Teaching Program – FETP). Khi chuẩn bị hoàn thành chương trình Tiến sĩ và về nước, anh may mắn được gia nhập Học viện YSEALI và tham gia giảng dạy Chính sách công tại Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (Fulbright School of Public Policy and Management – FSPPM), Đại học Fulbright Việt Nam. Nơi đây theo anh là đúng với tính chất “chính sách công” mà anh theo đuổi nhất – “một chiếc dù lớn” bao hàm nhiều lĩnh vực để giải quyết những vấn đề liên ngành và toàn cầu. 

Anh Huỳnh Trung Dũng (ngoài cùng bên trái) cùng giảng viên FSPPM tại hội thảo Harvard, năm 2018

Tại Học viện YSEALI, anh đóng vai trò là Giảng viên điều phối mảng Chính sách Công. Ở vị trí này, ngoài nhiệm vụ tham gia giảng dạy, anh còn là người lên kế hoạch, chọn đề tài và sắp xếp giảng viên và chuyên gia tham gia đào tạo từ khắp mọi nơi trên thế giới. Sự đa dạng về đối tượng  học viên cũng như chuyên gia giảng dạy mang đến cho anh thử thách và trải nghiệm thú vị song hành. Thử thách ở chỗ anh phải thiết kế chương trình chuyên sâu phù hợp với học viên ở 11 quốc gia Đông Nam Á (gồm Timor-Leste) và từ nhiều ngành nghề khác nhau. Còn thú vị vì đây là chương trình đầu tiên ở Đông Nam Á  thảo luận chính sách công ở quy mô khu vực và liên ngành dành cho các nhà lãnh đạo trẻ ở khu vực; đồng thời vị trí điều phối cũng giúp anhcó cơ hội để tham gia tất cả các lớp, học hỏi thêm về những ngành không phải chuyên môn của mình”

“Vấn đề công thì mỗi quốc gia đều có giải pháp riêng nhưng vẫn có nhiều điều tương đồng. Khoá học của Học viện YSEALI là cơ hội để các bạn trẻ tại các quốc gia có thể học hỏi lẫn nhau từ cả những tương đồng và khác biệt đó. Như là trong Khóa học Chính sách Công về Kinh tế Năng lượng và Chính sách, vấn đề của Việt Nam là về điện than, ở Lào, Campuchia là thuỷ điện hay Singapore là năng lượng mặt trời, nhưng tất cả đều có điểm chung là vấn đề hiệu quả và ảnh hưởng của việc sử dụng năng lượng lên các nhóm khác nhau trong xã hội” – anh Dũng nhớ về khoá học Chính sách công đầu tiên của Học viện YSEALI. Đây là một việc thiết thực khi chúng ta cùng đặt lên bàn thảo luận vấn đề của toàn cầu dưới tiếp cận chính sách từ nhiều quốc gia và nhiều ngành nghề khác nhau, để cùng nhau làm điều có ích cho hôm nay và cho thế hệ tương lai. 

Anh Huỳnh Trung Dũng (ngoài cùng bên phải) trong buổi Đặt câu hỏi trực tuyến Khóa học Chính sách Công về Kinh tế Năng lượng và Chính sách, năm 2021

Chọn thực tiễn liên ngành thay vì hàn lâm chuyên sâu

Với Huỳnh Trung Dũng, Chính sách Công là phải gắn liền với thực tiễn. Khi quyết định tiếp tục học lên Tiến Sĩ, giữa muôn vàn lựa chọn, anh đã chọn Trường Cao học Pardee RAND, Hoa Kỳ. Khác với những đa số các trường đào tạo cao học ở Mỹ,  Trường Pardee RAND trực thuộc RAND Corporation là một tổ chức think tank phi lợi nhuận hàng đầu của Mỹ, do đó chương trình của trường được xây dựng dựa trên các dự án thực tế sinh viên làm trực tiếp với các chuyên gia. 

Trong thời gian nghiên cứu tại RAND, anh đã tham gia nhiều dự án phân tích chính sách thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau về an ninh, quan hệ quốc tế và y tế. Những dự án nghiên cứu và phân tích tại RAND hầu như đều được những nhà hoạch định chính sách tiếp thu và áp dụng vào thực tế. 

Anh Huỳnh Trung Dũng (thứ hai từ trái sang) và các đồng nghiệp tại RAND, năm 2017

Khi giảng dạy sinh viên trong chương trình Chính sách công tại Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright cũng như Học viện YSEALI, anh cũng tạo điều kiện cho học viên được tranh luận, áp dụng và thực hiện những dự án gắn với thực tiễn. “Khi mình có những trăn trở trong đầu và mình cùng nhau phản biện trên những điều thực tế, khi ấy mình mới thực sự học được nhiều điều”, anh Dũng chiêm nghiệm. 

Đồng hành cùng người trẻ đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng  có cùng quan tâm và mong muốn đóng góp cho xã hội dưới tiếp cận chính sách, Huỳnh Trung Dũng cảm thấy mình được truyền cảm hứng và năng lượng mỗi ngày. Đặc biệt ở Khoá học Chính sách Công của Học viện YSEALI, anh Dũng ấn tượng với tinh thần hợp tác của các bạn học viên đến từ nhiều quốc gia Đông Nam Á. “Có những bạn chuyên môn rất cao nhưng vẫn mở lòng học hỏi từ những chia sẻ  của bạn học thuộc lĩnh vực khác và đổi lại, các bạn cũng mang kiến thức của mình chia sẻ đến mọi người. Trong khi làm việc nhóm, các nhà lãnh đạo trẻ phối hợp với nhau rất nhịp nhàng và cởi mở, cùng hướng đến một giải pháp đa chiều và thực tiễn nhất” – anh Dũng hào hứng chia sẻ. 

Anh hy vọng sẽ càng thêm nhiều bạn trẻ năng động, sáng tạo và quan tâm đến giá trị công  tham gia các khóa đào tạo ngành Chính sách công tại Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright và Học viện YSEALI, vì đây là một môi trường tự do học thuật và luôn hướng đến tính ứng dụng thực tế, để cùng nhau giải quyết những vấn đề liên ngành và toàn cầu. 

An Bình

Hoàng Hà Thi lý giải cái tên “là lạ” mẹ đặt cho do bà là người yêu thi ca – người viết văn ấm áp lãng mạn. Xuất thân là nhà giáo, bà coi trọng giáo dục nhân cách và gieo vào trái tim con cái triết lý sống, làm những việc tốt đẹp vì mọi người. Ảnh hưởng sâu sắc mẹ từ nhỏ, Hoàng Hà Thi chọn học ngành y khoa với mong ước làm bác sĩ, chữa bệnh cứu người. Những hoài bão khoa học đưa anh từ một bác sĩ lâm sàng bước vào con đường nghiên cứu, trở thành nhà khoa học thần kinh và sinh học phân tử; cho đến khởi nghiệp, làm doanh nhân đầu tư mạo hiểm công nghệ sinh học. Hoàng Hà Thi luôn bắt đầu bằng những ý tưởng – như anh mô tả – ngây thơ, hoặc thật điên rồ để được trải nghiệm những giấc mơ lớn của khoa học hay phiêu lưu táo bạo trong khởi nghiệp.

Hoàng Hà Thi thụ hưởng giáo dục của Đức từ bé. Từ 5 tuổi, Hà Thi sang Đức định cư theo gia đình. Bố của anh làm về vật lý lượng tử và mẹ là một nhà giáo dạy Văn tại Hà Nội. Cuộc di cư từ thập niên 80 thế kỷ trước buộc họ phải từ bỏ nghề nghiệp, mưu sinh kinh tế ở đất nước mới bằng công việc khác. Nhưng sinh kế nhọc nhằn không làm họ phai nhạt nền tảng của một gia đình trí thức và ảnh hưởng tích cực đến con cái. Khi định hướng nghề nghiệp, Hoàng Hà Thi theo học ngành y khoa tại Đại học Free, Berlin, Đức với mong muốn trở thành một bác sĩ, như một lẽ tự nhiên nối nghiệp gia đình khi người thân bên ngoại của anh hầu hết đều làm ngành y, riêng ông ngoại lại là cháu mấy đời của danh y Hải Thượng Lãn Ông.

“Khi học y khoa, tôi rất quan tâm đến não bộ. Để hiểu con người, chúng ta phải hiểu được bộ não. Nhưng khi làm việc trong bệnh viện, tôi nhận ra có nhiều bệnh liên quan đến não nhưng những hiểu biết về não bộ còn hạn chế” – Hoàng Hà Thi chia sẻ. Khoa học thần kinh não bộ đặc thù khó nhưng lại không kết nối với thực tiễn của người bệnh. Anh nhận ra khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học, thậm chí cảm thấy “thất vọng”.

“Tôi quyết định theo đuổi con đường nghiên cứu với hy vọng có thể tìm ra những phương pháp điều trị những căn bệnh kinh niên về não như Alzheimer’s (một bệnh về não gây ảnh hưởng đến suy nghĩ hành vi và trí nhớ, hiện chưa có phương pháp điều trị triệt để). Nghe như tôi là kẻ ngây thơ. Nhưng những nghiên cứu căn bản nhiều khi thường rời xa con người. Tôi có lợi thế xuất phát từ lâm sàng nên xác định rõ hướng đi của mình đứng giữa giao thoa nghiên cứu và ứng dụng vào cuộc sống” – Hà Thi chia sẻ. Anh muốn thực hiện những nghiên cứu tiền đề, góp phần tạo ra những thuốc điều trị mới cho các bệnh liên quan đến thần kinh, não.

Phiêu lưu những giấc mơ

Hoàng Hà Thi dành trọn những năm tháng tuổi trẻ đầy năng lượng theo đuổi nghiên cứu khoa học tại những cái nôi đỉnh cao học thuật thế giới về khoa học thần kinh. Anh hoàn thành nghiên cứu Tiến sĩ về Khoa học Thần kinh và Sinh học Phân tử tại Phòng Nghiên cứu Sinh học Phân tử MRC nổi tiếng thế giới, trực thuộc Đại học Cambridge, Anh Quốc. Đây là cái nôi của sinh học phân tử hiện đại, là nơi sản sinh ra 11 giải Nobel trong 60 năm qua. Tại Cambridge, những khám phá của anh đã đặt nền móng cho các nỗ lực nghiên cứu và phát triển thuốc tân dược mới của các hãng dược lớn. Anh cũng là học giả nghiên cứu tại các tổ chức học thuật y khoa hàng đầu của Mỹ như Đại học Yale, Đại học Y khoa Harvard. Trong sự nghiệp nghiên cứu, Hoàng Hà Thi đã công bố các công trình nghiên cứu liên quan phương pháp chẩn đoán sớm đa xơ cứng, một bệnh ảnh hưởng đến tế bào thần kinh ở não và tủy sống rất phổ biến; đóng góp trong các nghiên cứu về chứng rối loạn não bộ ở trẻ như chứng động kinh, thiểu năng trí tuệ; các nghiên cứu về sự chết đi của các tế bào thần kinh trong căn bệnh Alzheimer…

Hoàng Hà Thi và bạn bè chụp ảnh kỷ niệm tại lễ nhận bằng Tiến sĩ, Đại học Cambridge, Anh Quốc

“Tôi muốn đến những nơi này để tận dụng các cơ hội, nguồn lực, mạng lưới của giới nghiên cứu thế giới. Để làm nghiên cứu, điều quan trọng nhất không phải bạn thông minh bao nhiêu mà bạn phải có rất nhiều nguồn lực. Những tổ chức học thuật này đặc biệt vì ở đó có nhiều nguồn lực khổng lồ dành cho nghiên cứu. Thực tế, có rất nhiều tiền đổ vào các nghiên cứu không có ý nghĩa nhiều trong ứng dụng. Bản thân tôi đến Harvard với mục đích tìm kiếm cơ hội, nguồn lực dành cho các nghiên cứu khả thi thương mại hoá. Nếu có những nghiên cứu hữu ích, thú vị, bạn có thể tìm kiếm nguồn lực ở những nơi như vậy để thực hiện. Những nghiên cứu về phương pháp điều trị có giá trị nhất, sau cùng là những nghiên cứu gắn với thực tiễn cuộc sống, tạo ra những tác động cho người bệnh.” – Hà Thi chia sẻ.

Sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ thành công, Hoàng Hà Thi muốn dừng lại công việc nghiên cứu và lao vào khởi nghiệp.  Anh muốn hiện thực hóa các kết quả nghiên cứu, tạo ra thuốc chữa trị cũng như phương pháp điều trị. Thành lập 2 công ty công nghệ sinh học, trong đó một công ty đặt tại Áo và một công ty hoạt động tại London (Anh), Hà Thi từng nếm mùi thất bại chập chững khởi nghiệp. Công ty tại London phải đóng cửa sau hai năm hoạt động nhưng công ty tại Áo vẫn trụ vững và hoạt động tốt. Do y dược là lĩnh vực đặc thù, Hà Thi chọn hướng đi tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm, làm vai trò tư vấn cho các công ty đầu tư khởi nghiệp.

“Thay vì chờ đợi, thay vì bị động, hay chờ đợi các nghiên cứu mới xuất hiện, tôi muốn mình chủ động…” – Hà Thi chia sẻ. Ở Mỹ, anh kết nối với cộng đồng đầu tư mạo hiểm ở Boston và tham gia vào Flagship Pioneering, một quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên xây dựng các công ty công nghệ sinh học với những ý tưởng khoa học mang tính đột phá. Một trong những công ty Flagship Pioneering rót vốn đầu tư cách đây 10 năm là Moderna, Inc, một công ty công nghệ sinh học có trụ sở đặt tại Cambridge, Massachusetts. Ngày nay công ty này nổi danh toàn cầu với thương hiệu vaccine ngừa Covid-19 Moderna, giúp bảo vệ mạng sống hàng trăm triệu người trước dịch bệnh Covid nguy hiểm hoành hành khắp thế giới.

“Flagship Pioneering cho tôi cơ hội làm việc với nhiều nhà khoa học từ các ngành khoa học, chuyên môn khác nhau. Chúng tôi cùng tham gia vào những ý tưởng, có thể nói điên rồ và đôi chút ngây thơ hình thành những công ty công nghệ sinh học mới như vậy. Nhưng chúng tôi đã có những cơ hội trao đổi về những viễn cảnh ở giai đoạn khởi thủy của những ý tưởng, như thể chúng tôi đang mơ những giấc mơ lớn. Tôi đã đóng góp cho việc hình thành hai công ty khởi nghiệp trong hình thái như vậy”.

Hơn một thập kỷ khởi nghiệp ngành y từ công việc bác sĩ chữa bệnh, rồi trở thành một nhà khoa học thần kinh và sinh học phân tử, một nhà tư vấn, một doanh nhân khởi nghiệp từ những hoài bão mộng mơ, Hoàng Hà Thi bôn ba một hành trình phiêu lưu kỳ lạ, khác thường.

“Hầu hết các bạn học của tôi đã trở thành bác sĩ thành đạt. Họ có một cuộc sống ổn định, nhà cửa và cơ sở hành nghề. Tôi lại chọn cho mình một hành trình di chuyển khắp nơi trên thế giới, một lựa chọn cuộc sống ít an toàn hơn, mạo hiểm hơn. Nhưng lựa chọn này phù hợp với tính cách thích phiêu lưu của tôi. Một hành trình phiêu lưu luôn chứa đựng những trải nghiệm độc đáo, cho phép tôi làm những công việc thực sự thú vị. Tôi có thể nhìn về bệnh tật, y học không chỉ từ góc nhìn của một bác sĩ y khoa, mà còn từ góc độ một nhà khoa học hay góc độ một doanh nghiệp”.

Khối mâu thuẫn về bản sắc

Năm 2019, chuyến đi trở lại Việt Nam hai tuần của Hà Thi khởi đầu cho một ngã rẽ sự nghiệp anh không ngờ tới. Thi rời Việt Nam khi quá nhỏ nhưng không vì thế kết nối với quê hương bị xóa nhòa. Mẹ của anh có “vũ khí” ngăn cản xa cách, kết nối cội nguồn là ẩm thực. Những món ăn truyền thống của Việt Nam, những món ngon đặc trưng của người Hà Nội tạo không khí, niềm vui cho gia đình suốt những năm tháng tuổi thơ. Tình yêu ẩm thực của mẹ lan toả, ngôn ngữ mẹ đẻ không làm cho anh quên nơi sinh ra nhưng ý niệm sâu sắc về bản sắc gốc gác lại đi qua một hành trình thật dài. Hành trình đó đi qua những khúc xung đột mơ hồ, với những mâu thuẫn âm ỉ len lỏi không dễ nhìn ra thẳng băng như việc Thi đặt mục tiêu rời Berlin đến Cambridge hay Harvard để thỏa mãn đam mê nghiên cứu khoa học.

“Sống và lớn lên ở châu Âu, tôi ảnh hưởng bởi môi trường đa dạng nuôi dưỡng tư duy cởi mở. Tôi có bạn bè khắp nơi trên thế giới, điều khiến tôi vô cùng hạnh phúc vì giúp mình trải nghiệm, hình thành một tư duy, tầm nhìn khoáng đạt, rộng mở, cả trong những suy tư về sự tồn tại sống. Điều gọi là “tư duy quốc tế”, “tư duy toàn cầu” được nuôi dưỡng đã giúp những đứa trẻ thuộc nền văn hóa thứ ba như tôi, sống và lớn lên trong một quốc gia, một nền văn hóa khác biệt với nền văn hóa gốc của bố mẹ, hoà nhập và thích ứng một cách thuận lợi. Nhưng đã có một điều mơ hồ len lỏi” – Thi kể. Xung đột diễn ra khi đến tuổi mới lớn, anh nhận thấy bạn bè người Việt ở Đức có xuất thân như mình có xu hướng khép kín trong cộng đồng riêng, không thể cởi mở với những văn hoá khác biệt. Những người bạn chỉ quanh quẩn với chính họ khiến Thi khó hiểu.

“Điều đó làm tôi thấy khó kết nối với họ và quyết định rằng, mình không thuộc về thế giới đó. Bởi tôi luôn muốn tư duy mình rộng mở và phát triển cởi mở với bên ngoài” – Thi nói.

Hào hứng với tuổi trẻ bôn ba bồi đắp trải nghiệm tri thức, khi thế giới đã quen thuộc trong tâm thức, Thi nhận ra bản thân rơi vào mâu thuẫn nội tâm ngày một rõ hơn: “Rốt cuộc mình là ai? Mình thuộc về nơi nào?”. Chất xúc tác làm cho những mâu thuẫn âm ỉ len lỏi nội tâm bị phơi bày khi một ngày Thi  trở lại quê hương, nói tiếng Việt, ăn những món ăn đường phố, uống cà phê sữa, trò chuyện cùng một ngôn ngữ với những người cùng sinh ra trên một đất nước. Khi ngồi trên máy bay rời Việt Nam trở lại Boston, Thi nhận ra những trải nghiệm “về nhà” là một cú sốc tinh thần. Nó sáng tỏ những yêu thương nuôi dạy con theo tư duy truyền thống của người Việt của bố mẹ, mà khi lớn, có đôi lúc Thi từng nghĩ không chút kết nối.

“Tôi rời Việt Nam với một cú sốc. Tôi nhận ra đã yêu Việt Nam đến nhường nào. Khi ngồi trên máy bay, tôi khóc như một đứa trẻ. Tôi không phải người dễ dàng phơi bày nước mắt đến thế” -Thi kể.

Sau chuyến đi trở lại Việt Nam, Thi ghi chép lại những cảm xúc và chia sẻ với bạn bè trên trang cá nhân: “Định nghĩa về nguồn cội và bản thân luôn là một thách thức đối với Thi. Là Thi “mất gốc”, hay Thi là con người của tự do? Có phải Thi sẽ mãi mắc kẹt giữa ranh giới của cả hai điều đó? Thi thấy mình như đang phải tìm kiếm những mảnh ghép còn thiếu cho một bức tranh khổng lồ với hy vọng một ngày nào đó bức tranh ấy sẽ hiển lộ những hình khối rõ ràng với những màu sắc tươi sáng và hài hoà. Nhưng chuyến đi trở về Việt Nam đã giúp Thi mường tượng ra bức tranh đó. Điều này vượt quá sự mong đợi. Bằng việc kết nối với người thân, nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ mẹ đẻ Thi được học những năm đầu đời, thưởng thức ẩm thực tuyệt vời nơi đây, đặt chân đến một vài phần rất nhỏ của dải đất hình chữ S xinh đẹp, và hơn hết có những mối liên hệ sâu sắc với bạn bè Việt Nam, Thi đã phần nào có thể khám phá ra và tìm lại sợi dây liên kết với phần con người Việt, bản sắc Việt bên trong mình”.

Hà Thi bắt đầu kết nối các dự án với Việt Nam mà anh cho rằng “bản sắc cá nhân đi kèm trách nhiệm”. Khởi đầu là dự án thiện nguyện hỗ trợ học sinh sinh viên nghèo đi học được Thi giới thiệu tại Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu lần thứ hai và dự án hợp tác giữa Viện nghiên cứu hệ Gen tại Hà Nội (Institute of Genome Research) và một công ty về hệ gen học có trụ sở tại New York để lập bản đồ các biến thể bệnh di truyền hiếm gặp ở các dân tộc thiểu số vùng cao Việt Nam. Dự án có mục tiêu thúc đẩy sự phát triển về nghiên cứu hệ gen tại Việt Nam, lâu dài sẽ giúp phát triển những phương pháp chữa bệnh mới.

Trong hai năm qua, Hà Thi tích cực tham gia các hoạt động kết nối, trao đổi chuyên môn trong nước, giúp đỡ, huấn luyện các bạn trẻ Việt Nam về học tập nghiên cứu… Sau những trải nghiệm này, Thi nhận thấy đến lúc trở về. Mùa Thu này, anh sẽ chính thức trở thành giảng viên toàn thời gian của Đại học Fulbright Việt Nam. Nghề giáo của mẹ với triết lý nhân sinh lấy con người làm trung tâm nay trở thành nghiệp chính của mình. Cho dù đến chân trời nào, Hà Thi luôn phân luồng trái tim ngoài tình yêu dành trọn cho y học, âm nhạc, giáo dục là một phần không thể tách rời.

Nắm bắt rủi ro, thích ứng bất định

Tiến sĩ Hoàng Hà Thi gia nhập Đại học Fulbright trong vai trò là giảng viên nòng cốt của Học viện YSEALI. Anh sẽ dành phần lớn thời gian giảng dạy cho các chương trình đào tạo của Học viện, đồng thời tham gia giảng dạy môn Khoa học tích hợp của Chương trình Cử nhân. Khoá học đầu tiên do anh dẫn dắt tại Học viện YSEALI có chủ đề “Định hướng hệ sinh thái khởi nghiệp” sẽ diễn ra vào tháng 11 tới. Tại Học viện YSEALI, không chỉ làm việc với các nhà lãnh đạo trẻ tiềm năng của Đông Nam Á, anh coi đây là cơ hội tiếp tục học hỏi, quan sát và tìm những người đồng chí hướng khởi nghiệp. Hà Thi manh nha ý tưởng thông qua Học viện xây dựng năng lực cho Đông Nam Á trở thành một “Thung lũng Silicon” tiếp theo, hình thành các công ty đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ của khu vực.

“Tôi không muốn các quốc gia Đông Nam Á chỉ được nhìn nhận, biết đến như một công xưởng sản xuất cho thế giới. Nơi đây, con người có đủ năng lực trí tuệ để xây dựng những sản phẩm thương hiệu riêng. Tôi hy vọng kết nối với những nhân tố có tư duy đột phá để cùng họ làm việc và thảo luận trong các khoá học tại Học viện YSEALI” – Tiến sĩ Hoàng Hà Thi chia sẻ. Anh mong muốn sẽ thu nạp những ứng viên có viễn kiến, tư duy cởi mở và khát khao thôi thúc làm những công việc có ý nghĩa mà họ tận tâm không chỉ riêng cho doanh nghiệp, mà cả cộng đồng, xã hội.

Tiến sĩ Hoàng Hà Thi cũng sẽ mang tinh thần khai phóng trong giảng dạy trong các môn học dành cho sinh viên cử nhân tại Đại học Fulbright. Đó là học từ trải nghiệm, nắm bắt rủi ro và thích ứng với sự bất định như những thực hành tất yếu cho việc khởi tạo một ý tưởng mới.

“Tôi nghĩ điều mình có thể làm trong giảng dạy sinh viên đó là dạy cho họ cách nắm bắt những rủi ro, thích ứng bất định, học cách thử nghiệm, tháo rỡ và lắp ráp những thứ xung quanh cuộc sống. Điều đó vô cùng quan trọng sau khi các em bước chân ra ngoài cuộc sống làm bất kể công việc chuyên môn, ngành nghề nào. Mỗi ngành khoa học giờ đây đều mang tinh thần liên ngành. Để thực hiện mỗi ý tưởng sáng tạo, trui rèn khả năng thích ứng với sự bất định là năng lực quan trọng cần thiết nhất trong một thế giới biến động ngày càng trở nên phức tạp” – Tiến sĩ Hà Thi lý giải.

Xuân Linh

Lời tựa: Năm 2016, Trường Đại học Fulbright Việt Nam chính thức đi vào hoạt động và nền tảng thành lập trường – Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright – trở thành Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM) – đơn vị học thuật đầu tiên của Đại học Fulbright Việt Nam.

Từ tháng 5/2017, lãnh đạo Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright bắt đầu tiếp cận quy trình kiểm định quốc tế về chất lượng đào tạo của NASPAA, tổ chức kiểm định quốc tế cho các chương trình đào tạo sau đại học trong lĩnh vực chính sách công, hành chính công và quản lý công.

Tháng 8/2018, trường chính thúc nộp hồ sơ kiểm định Chương trình Thạc sĩ Chính sách công cho  NASPAA. Tháng 7/2019, trường được NASPAA công nhận đạt chuẩn chất lượng với thời hiệu cao nhất là 7 năm. Thời gian kiểm định của FSPPM được rút ngắn 1 năm so với quy trình chuẩn mực do bộ hồ sơ đạt chất lượng cao ngay từ bản báo cáo tự đánh giá mà NASPAA cho rằng rất gần với bản báo cáo cuối cùng xin kiểm định.

Giáo sư – Tiến sĩ Terry Buss, học giả nghiên cứu của Học viện Hành chính Quốc gia Hoa Kỳ (NAPA), cựu Giám đốc Trường Chính sách công Carnegie Mellon tại Australia cố vấn cấp cao cho Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright.

Ông là người đã theo sát và tư vấn cho Fulbright trong suốt 18 tháng thực hiện kiểm định. Bài viết dưới đây của ông có thể giúp hình dung toàn cảnh chặng đường của Fulbright. Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc:

Năm 2019, chương trình Thạc sĩ Chính sách công của Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright chính thức được Mạng lưới các trường chính sách công, hành chính công và quản lý công (NASPAA) (https://www.naspaa.org/) ở Washington, DC, Hoa Kỳ công nhận đạt chuẩn chất lượng quốc tế.

Chứng nhận NASPAA là tiêu chuẩn vàng về chất lượng đào tạo trong lĩnh vực chính sách công và quản lý. Trường Fulbright là một trong số 11 viện đào tạo nằm bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ được chứng nhận về chất lượng giáo dục; trong tổng số thành viên chỉ có 187 trường vượt qua được những tiêu chuẩn kiểm định khắt khe của NASPAA. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ có gần 400 chương trình đào tạo sau đại học trong ngành chính sách công hiện đang theo đuổi danh hiệu này. Ngoài Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, chưa có ngôi trường nào khác ở Việt Nam hay khu vực Đông Nam Á đạt được kiểm định của phương Tây ở cấp bậc đào tạo thạc sĩ.

Giáo sư Terry Bush trong buổi seminar “Bí quyết viết policy memo hiệu quả” tại trường Chính sách công và Quản lý Fulbright.

Đa số các trường đều không thể hoàn thành hồ sơ ứng tuyển trong năm đầu tiên và hầu hết các trường thành viên nằm trong mạng lưới vẫn chưa đạt được chứng nhận NASPAA. Trường Fulbright đã thành công ngay trong lần nộp hồ sơ đầu tiên. Không chỉ dừng lại ở đó, NASPAA không tìm thấy một khiếm khuyết nào của chương trình, ngược lại còn tán dương nhiều thông lệ của nhà trường nên là hình mẫu mà những thành viên khác nên học hỏi.

Vào năm 2008, Trường Fulbright là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam có chương trình Thạc sĩ Chính sách công. Đến năm 2017, Trường được phép trao bằng Thạc sĩ dưới danh nghĩa của trường mẹ là Đại học Fulbright Việt Nam. Trước đó, bằng Thạc sĩ Chính sách công của trường được trao dưới danh nghĩa của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, đối tác học thuật quan trọng của nhà trường trong hơn hai thập kỷ.

Quy trình Kiểm định của NASPAA

NASPAA yêu cầu xấp xỉ hai năm nỗ lực không ngừng nghỉ để hoàn tất quy trình kiểm định. Bước đầu tiên là nhà trường nộp đầy đủ những thông tin và số liệu chi tiết, chứng minh mình thỏa mãn yêu cầu tham gia quá trình kiểm định.

Tiếp theo, nhà trường phải chuẩn bị báo cáo chứng minh mình đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của NASPAA, thể hiện nhà trường hiểu rõ và tuân thủ theo những thông lệ, sáng kiến và chất lượng của những đại học danh giá trên thế giới.

NASPAA là quá trình kiểm định dựa trên bằng chứng, thể hiện qua sứ mệnh, mục tiêu của nhà trường; chất lượng và thành tích của giảng viên; thành tích học tập và thành công trong nghề nghiệp của học viên; cơ sở hạ tầng và nguồn lực tài chính; trang thiết bị học tập; chiến lược phát triển và chương trình đào tạo.

Một số bằng chứng mà Trường Fulbright đã thu thập trong bộ hồ sơ ứng tuyển của mình là:

  • Khảo sát cựu học viên, nhà tuyển dụng, lãnh đạo các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.
  • Khảo sát học viên hiện tại thời điểm mới nhập học và tốt nghiệp; đánh giá các môn học; phản hồi của học viên về các dịch vụ phục vụ sinh viên.
  • Đánh giá của chuyên gia bên ngoài về chương trình học, các bài thi, bài tập và luận văn tốt nghiệp.
  • Kiểm tra đảm bảo học viên đã nắm vững kiến thức chính sách công và quản lý.
  • Nghiên cứu nghề nghiệp (chức vụ và mức lương) của cựu học viên sau khi tốt nghiệp; mức độ hài lòng với chương trình đào tạo; mức độ ứng dụng kiến thức trong công việc.
  • Phân tích quy trình tuyển sinh, đánh giá và chọn lọc học viên, marketing và hoạt động tư vấn học viên.
  • Đánh giá website, brochure và các tư liệu marketing của nhà trường.
  • Đánh giá toàn diện chương trình đào tạo.

Nhà trường đã chọn một số đại học kiểu mẫu trong khu vực để quan sát cách làm của những ngôi trường này.

Sau đó nhà trường phải chuẩn bị một báo cáo tóm tắt lại những bằng chứng này và nộp lên cho Hội đồng Đánh giá và Kiểm định của NASPAA, bao gồm 20 thành viên là những chuyên gia hàng đầu về tổ chức và điều hành các trường đào tạo chính sách công và quản lý. Hội đồng sẽ đọc bản báo cáo và có thể yêu cầu thêm thông tin hoặc bằng chứng nếu cần thiết. Nhà trường cũng thuê các chuyên gia tư vấn bên ngoài kiểm duyệt báo cáo này trước khi nộp lên cho NASPAA.

Vào tháng 4/2018, lãnh đạo và giảng viên của Trường Fulbright gặp gỡ với lãnh đạo của NASPAA ở Bắc Kinh cùng nhau lắng nghe những thông lệ đào tạo tiên tiến trên thế giới, ví dụ như cách ứng dụng họp trực tuyến và lớp học trực tuyến.

Theo GS Terry Buss, học viên tốt nghiệp từ chương trình của FSPPM có thể tự tin khẳng định họ nhận được nền giáo dục chất lượng quốc tế được công nhận trên toàn cầu.

Sau đó, một Ban kiểm tra thực địa đến thăm cơ sở đào tạo của nhà trường và kiểm chứng những thông tin mà trường nộp lên cho NASPAA trong chuyến công tác 4 ngày. Ban kiểm tra gồm có 2 giảng viên cao cấp từ những trường đã đạt chuẩn NASPAA và một chuyên gia hiện đang công tác trong lĩnh vực công ở Việt Nam. Cả ba thành viên đều phải có chuyên môn vững vàng về lý thuyết và thực hành và có quyền yêu cầu xem bất kỳ thông tin, báo cáo, bài thi và luận văn của học viên hay bất kỳ hồ sơ nào. Ban kiểm tra thực địa cũng tổ chức những buổi phỏng vấn kín với ban giảng viên, học viên, cựu học viên, và một số chuyên gia, nhà thực hành độc lập bên ngoài.

Ban kiểm tra sẽ báo cáo lại cho Hội đồng đánh giá những điều họ phát hiện được so với những thông tin mà trường đã nêu ra trong báo cáo.

NASPAA nhấn mạnh sự tham gia sâu sát của ban giảng viên và học viên trong quá trình soạn thảo báo cáo kiểm định.

Ban giảng viên phải thu thập dữ liệu, soạn thảo báo cáo, và bỏ phiếu tán thành hay phủ quyết những chính sách quan trọng của nhà trường. Học viên và cựu học viên tham dự vào những buổi phỏng vấn để nêu ý kiến cảm nhận của họ về nhà trường.

Ngoài ra, Trường Fulbright còn nhận được sự hỗ trợ của các chuyên gia nổi tiếng quốc tế trong lĩnh vực chính sách công và quản lý để tư vấn cho nhà trường về các thông lệ, phương án, và chiến lược cần thiết để trở thành một chương trình đào tạo đẳng cấp quốc tế. Một phần trong nỗ lực vươn tầm quốc tế là cơ hội xây dựng năng lực để giảng viên nắm bắt được những kiến thức mới nhất trong chính sách công và quản lý. Ví dụ cách phát triển và viết những nghiên cứu tình huống kết hợp tri thức địa phương ở Việt Nam với mô hình giảng dạy nghiên cứu tình huống của Đại học Harvard.

Vì sao phải theo đuổi kiểm định quốc tế  

Chứng nhận NASPAA đem đến nhiều lợi ích cho nhà trường và học viên.

Học viên tốt nghiệp từ chương trình có thể tự tin khẳng định họ nhận được nền giáo dục chất lượng quốc tế được công nhận trên toàn cầu. Điều này đem đến cho họ lợi thế cạnh tranh khi nộp đơn xin việc, ứng tuyển các chương trình tiến sỹ, hay chuyển đổi một số môn học sang các trường đại học Hoa Kỳ và Châu Âu.

Giảng viên có thể tăng uy tín của bản thân khi thay đổi công việc, nộp đơn xin tài trợ nghiên cứu hoặc cạnh tranh trong các giải thưởng học thuật.

Trường có thể thu hút những giảng viên quốc tế và diễn giả khách mời đến thỉnh giảng cho chương trình. Chứng nhận quốc tế cũng giúp nhà trường thu hút nguồn tài trợ bên ngoài.

Nhà trường có thêm nhiều cơ hội hợp tác nhờ vào kiểm định NASPAA. Ví dụ, gần đây nhà trường đã ký Thỏa thuận Hợp tác với Học viện Hành chính Quốc gia Hoa Kỳ (www.napawash.org) ở Washington cùng nhau thực hiện những dự án chung, trao đổi giảng viên và cán bộ nghiên cứu, và hợp tác tổ chức các khóa học và seminar. NAPA là học viện do Quốc hội Hoa Kỳ đỡ đầu, các đại biểu quốc hội đều là những đại biểu dân cử và cống hiến cả đời vì sự nghiệp chính sách công và quản lý, đây được xem là danh hiệu cao nhất cho những người hoạt động và nghiên cứu về chính sách công.

Trên nền tảng này, Trường Fulbright đang sở hữu tiềm năng khổng lồ vươn lên trở thành một học viện hàng đầu ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và nhà trường cũng đã có những bước tiến vượt bậc trên hành trình vươn lên tầm quốc tế này.

Bằng chứng thành công

Nhận được chứng nhận NASPAA chính là chỉ dấu cao nhất về sự thành công của chương trình. Tuy nhiên, trong quan điểm của tôi, dấu hiệu quan trọng chính là cộng đồng 1400 cựu học viên Fulbright. Bất kể khi nào Trường tổ chức một chương trình, cựu học viên luôn sẵn sàng xuất hiện. Bất cứ khi nào nhà trường cần sự hỗ trợ, cựu học viên luôn đáp lại nhiệt tình.

Những dấu hiệu khác đó là 90% học viên tốt nghiệp từ chương trình và 95% học viên sau khi tốt nghiệp đều công tác ở lĩnh vực công và những vị trí quản lý.

Năm ngoái khi trường tổ chức buổi giới thiệu thông tin chương trình học bổng Thạc sĩ Chính sách công, hàng trăm ứng viên tiềm năng đăng ký tham dự và khoảng 10,000 người xem trực tuyến.

Giáo sư Terry Buss (Học viện Hành chính Quốc gia Hoa Kỳ)

Trong lịch sử hình thành và phát triển kể từ Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP), Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (FSPPM) đặt trọng tâm đầu tư vào đội ngũ giảng viên Việt Nam và chương trình giảng dạy. Trong suốt gần 15 năm đầu, hai trọng tâm này của trường đã nhận được sự hỗ trợ và chuyển giao kinh nghiệm từ Đại học Harvard với những chuẩn mực học thuật khắt khe nhất. Từ nền tảng này, FSPPM không ngừng đổi mới sáng tạo, phát triển chương trình giảng dạy, từ đó đạt được kiểm định quốc tế, đứng vào hàng ngũ những trường chính sách công hàng đầu của khu vực.

Đầu tháng 4 năm 2018, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (FSPPM) cùng Giáo sư Terry Buss, học giả nghiên cứu của Học viện Hành chính Quốc gia Hoa Kỳ (NAPA), cũng là cố vấn cấp cao của FSPPM đến Bắc Kinh, Trung Quốc tham dự Hội nghị khu vực châu Á của NASPAA (Mạng lưới toàn cầu các trường chính sách công, hành chính công và quản lý công) .

9 tháng trước đó (tháng 5/2017), lần đầu tiên TS Vũ Thành Tự Anh có cuộc trò chuyện qua Skype với Chủ tịch của NASPAA – GS David Birdsell và một số chuyên gia kiểm định của tổ chức này để bắt đầu tìm hiểu về quy trình kiểm định quốc tế. Với tinh thần tham dự hội nghị để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và kết nối quan hệ với mạng lưới hơn 300 trường thành viên khác trong NASPAA, FSPPM đã chuẩn bị một bộ hồ sơ đặc biệt, đó là bản “Báo cáo tự đánh giá” (Self-Study Report), một bước hết sức quan trọng trong quy trình kiểm định chất lượng Chương trình Thạc sỹ Chính sách công (MPP) theo tiêu chuẩn NASPAA.

Quy trình kiểm định NASPAA của Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright

 

Trong cuộc gặp bên lề tại Bắc Kinh với GS. Jeffery L. Osgood, Chủ tịch COPRA (Ủy ban Bình duyệt Kiểm định của NASPAA), TS. Tự Anh và GS. Buss đã giới thiệu Báo cáo tự đánh giá của FSPPM với mục đích tham khảo ý kiến bước đầu của COPRA. GS. Osgood và các chuyên gia thẩm định của COPRA cầm bản báo cáo khá dày dặn trên tay, xem ngay tại chỗ và tỏ ra rất bất ngờ. Với ông, bản báo cáo này quá ấn tượng và theo đánh giá của họ nó không hề là “bản nháp” đầu tiên, mà rất gần với bản báo cáo cuối cùng có thể đệ trình kiểm định chính thức.

Ngay sau khi từ Bắc Kinh trở về TP.HCM, FSPPM nhận được email của COPRA, đề nghị trường nộp ngay “Báo cáo đủ điều kiện” (Eligibility Report) cho COPRA để kịp hạn vào giữa tháng 4. Trong bức thư này, COPRA cũng khuyên FSPPM gửi đề nghị xin được “đặc cách” nộp luôn Báo cáo tự đánh giá (Self-Study Report) vào tháng 8 năm ấy.

Sau này FSPPM mới biết rằng mình là trường đầu tiên, và cho đến thời điểm này là trường duy nhất, trên thế giới được đặc cách như vậy vì theo quy định của NASPAA, thời gian tối thiểu giữa Báo cáo đủ điều kiện và Báo cáo tự đánh giá là một năm – và như vậy, nếu theo đúng lộ trình, phải đợi tới hè 2019 FSPPM mới được phép đệ trình Báo cáo tự đánh giá, và sớm nhất đến hè 2020 mới có thể hoàn thành kiểm định.

Cuộc họp của FSPPM với NASPAA tại Bắc Kinh

Bốn tháng sau cuộc gặp tại Bắc Kinh, hồ sơ của FSPPM đã nằm trong danh sách các trường đệ trình xét duyệt của NASPAA. Cùng với FSPPM, chỉ riêng tại Mỹ, có khoảng gần 400 chương trình đào tạo sau đại học trong ngành chính sách công cùng theo đuổi kiểm định của tổ chức này. Thành công ngay trong lần nộp hồ sơ đầu tiên, cuối tháng 7/2019, FSPPM chính thức nhận được kiểm định của NASPAA với thời gian rút ngắn so với quy trình xét duyệt 1 năm, và thời hiệu kiểm định cao nhất, lên đến 7 năm. Với kết quả này, FSPPM là trường chính sách công của Đông Nam Á và một trong số 11 viện đào tạo nằm bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ được chứng nhận về chất lượng giáo dục. Trong khi đó, trong tổng số 300 thành viên, hiện mới chỉ có 187 trường vượt qua được những tiêu chuẩn kiểm định khắt khe của NASPAA.

Sự chứng nhận của NASPAA, trong lịch sử phát triển của FSPPM, không phải là kết quả có được một sớm một chiều. Nó là kết tinh giá trị của một hành trình bồi đắp, tích lũy nền tảng giáo dục đào tạo trong suốt hơn hai thập kỷ.

Di sản Harvard

Ngay từ khi bắt đầu Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh (FETP) – tiền thân của FSPPM – từ năm 1995, những người sáng lập dự án ở phía Hoa Kỳ đã mong muốn trang bị kỳ kiến thức quản lý kinh tế hiện đại cho các  nhà hoạch định chính sách của Việt Nam để hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Dự án hợp tác giáo dục quốc tế này được giao cho Trường Harvard Kennedy triển khai, như một phiên bản thu nhỏ chương trình giảng dạy của nhà trường.

Các giảng viên đầu tiên của FETP đến từ nhiều trường đại học hàng đầu của Mỹ đã hào hứng tham gia giảng dạy cho dự án – trong số đó có Giáo sư Perkins, người đứng lớp một khóa học mô phỏng lớp về Kinh tế Phát triển Đông Á của ông ở Harvard, Giáo sư Dapice (Đại học Tufts), Giáo sư James Riedel (Đại học John Hopkins)… Họ dạy các khóa kinh tế học tân cổ điển tại FETP theo đúng kiểu của Harvard, với giáo trình của các đại học ở Hoa Kỳ.

Nhìn lại thời kỳ này, TS Vũ Thành Tự Anh cho rằng, đó là giai đoạn nền tảng vàng khi Fulbright khởi sự được đứng ngay trên vai người khổng lồ Harvard. Các cán bộ quản lý của Việt Nam không chỉ học kiến thức quản lý kinh tế từ các giáo trình kinh tế hiện đại mà điều đáng quý là sự hỗ trợ chuyên môn học thuật trực tiếp, gần gũi của các giảng viên từ Harvard và các trường đại học của Mỹ. Họ đến Việt Nam để trực tiếp đứng lớp, có người tâm huyết ở đây hết một học kỳ, thậm chí đi về nhiều lần trong một năm học.

Trong chuyến làm việc của NASPAA tại FSPPM

Nhưng Harvard đã không đóng khung nội dung học thuật của mình tại FETP một chiều. Chỉ sau một thời gian ngắn, những giáo sư của Mỹ nhanh chóng nhận ra, để hữu ích hơn cho Việt Nam, chương trình đào tạo của Harvard phải được “địa phương hóa” để bắt rễ sâu sắc vào bản địa. Từ những quan sát, nghiên cứu và trải nghiệm toàn diện và sâu sắc về Việt Nam, các giảng viên FETP bắt đầu đưa những vấn đề thực tiễn sinh động của Việt Nam vào trọng tâm chương trình đào tạo.

Vào thời gian đó ở Việt Nam, có những môn học đặc trưng chỉ có ở Fulbright như Tiếp thị địa phương, Thẩm định dự án đầu tư, Tài chính Phát triển… Ở những nền kinh tế đã phát triển, những vấn đề này không quá nóng bỏng và có nhiều tính thời sự. Nhưng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi và bước vào giai đoạn đòi hỏi cải cách quyết liệt, những khái niệm và kiến thức mới này trở nên hết sức quan trọng, góp phần mang lại nhiều nhận thức mới mẻ cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cả ở trung ương lẫn địa phương.

Ngay cả trong những môn học mang tính lý thuyết và kinh điển của mọi chương trình đào tạo kinh tế hay chính sách công tiêu chuẩn như Kinh tế học vi mô, Kinh tế học vĩ mô hay Kinh tế lượng, các giảng viên Fulbright vẫn lồng ghép những tình huống thực tiễn của Việt Nam để người học có thể áp dụng ngay những gì mình học vào việc giải quyết các vấn đề quản lý kinh tế hay phân tích chính sách. Điều này đã tạo nên bản sắc về chương trình đào tạo và là di sản độc đáo của trường Fulbright.

Vươn tới chuẩn mực quốc tế cao nhất

Năm 2008, chương trình đào tạo một năm về kinh tế học ứng dụng của FETP chính thức được nâng cấp, trở thành Chương trình Thạc sĩ Chính sách công đầu tiên tại Việt Nam. Chương trình đào tạo của Fulbright kiên định tiếp cận liên ngành, giảng dạy và nghiên cứu dựa trên bằng chứng, nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp của đời sống thực tiễn Việt Nam. Nhưng trên hết, Fulbright đặt ra một lộ trình tham vọng hơn, đó là đưa chương trình vươn tới những chuẩn mực quốc tế cao nhất mà các trường đại học hàng đầu thế giới đang áp dụng.

Với sự phát triển vững vàng về đào tạo học thuật cũng như tích lũy tri thức, kinh nghiệm sâu sắc của đội ngũ giảng viên bản địa như các thầy Nguyễn Xuân Thành, Phạm Duy Nghĩa, Huỳnh Thế Du, Trường Fulbright bắt đầu tự tạo ra những cuộc thử thách cho mình về thẩm định chất lượng chương trình đào tạo. Tiến sĩ Tự Anh cho biết, cho đến trước khi đạt kiểm định của NASPAA, trong năm 2009, và một lần nữa trong hai năm 2016-17, trường đã mời các giảng viên cao cấp từ Đại học California (Hoa Kỳ), Đại học Washington (Hoa Kỳ), Đại học Bristish Columbia (Canada), Đại học Duke (Hoa Kỳ) thực hiện đánh giá độc lập về chương trình đào tạo của trường. Sau đó, đến giữa năm 2017, trường chính thức theo đuổi kiểm định quốc tế ở mức cao nhất là NASPAA, sau khi trở thành thành viên của mạng lưới tổ chức các trường chính sách công toàn cầu này.

Sự thẩm định kỹ lưỡng của các trường đối tác, thông qua chuẩn mực của họ, là cách để Fulbright định hình đẳng cấp đào tạo. Chúng tôi nỗ lực hết mình nhằm đem đến cho cộng đồng học viên đa dạng của mình một nền giáo dục được quốc tế công nhận, với chất lượng học thuật xuất sắc và chuẩn bị cho họ hành trang để sẵn sàng cho mọi cơ hội sự nghiệp trong nhiều lĩnh vực sau khi ra trường” – Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh nhấn mạnh.

Trong một buổi học tại FSPPM

Sau hai năm theo học tại đây, cựu học viên Chương trình Thạc sĩ Chính sách công (MPP2) Châu Ngô Anh Nhân đánh giá yếu tố nổi bật ở chương trình đào tạo của Fulbright đó là cung cấp khung lý thuyết căn bản để người học có thể dựa vào phân tích các vấn đề thực tiễn, đặc biệt trong việc tham mưu và xây dựng chính sách sau này. Bên cạnh đó, nhà trường luôn chú trọng cung cấp các công cụ phân tích, kỹ năng phân tích đầy đủ giúp bạn ra quyết định, mang lại hiệu quả tích cực cho xã hội.

Anh Hồ Quang Đệ, Phó giám đốc Sở Tài chính tỉnh Phú Yên, cựu học viên lớp MPP2 đánh giá cao chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng lý thuyết luôn đi đôi với nghiên cứu các tình huống thực tế, các chính sách cụ thể diễn ra trong đời sống xã hội hàng ngày của Việt Nam đặt trong tương quan với thế giới.

Điều này giúp học viên thực sự hiểu và vận dụng linh hoạt các lý thuyết vào thực tế để giải quyết vấn đề, đưa ra những hướng giải quyết phù hợp nhất với tình huống”.

Học viên lớp MPP21 Đỗ Minh Tâm đồng tình cho rằng, so sánh với những chương trình giảng dạy được nhập khẩu từ các trường Đại học ở nước ngoài, FSPPM là một chương trình vô cùng đặc biệt, được hiệu chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Ngoài các giáo trình của nước ngoài, các bài đọc là những bài viết được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín, đội ngũ giảng viên của FSPPM vẫn chu đáo chuẩn bị các bài tập tình huống thực tế của chính Việt Nam.

Những tình huống thực tế này thực sự hữu ích, là minh họa tuyệt vời cho học viên hiểu kĩ hơn về những kiến thức lý thuyết và cũng là một tài liệu tham khảo đáng quý để người học có thể hiểu hơn về Việt Nam nói chung và những khía cạnh khác nhau của các vấn đề chính sách công” – học viên Đỗ Minh Tâm chia sẻ.

Học viên Đỗ Minh Tâm (thứ hai từ trái qua)

Ở góc cạnh khác, học viên Nguyễn Chí Dân, lớp MPP21-PA chia sẻ, điều thú vị đó là chương trình được thiết kế để khai thác tối đa khả năng học tập, mà có thể xem là một thử thách về giới hạn bản thân của học viên.

Với cường độ làm việc dồn dập, các học viên dường như luôn có cảm giác cần thêm thời gian cho việc học. Điều mà tôi thấy tâm đắc nhất đối với chương trình học đó là hầu như tất cả các kiến thức của các môn học đều có bài tập giúp học viên ôn lại và hiểu cặn kẽ hơn từng vấn đề được học”.

Không quá khó để một trường có thể nhập khẩu giáo trình giảng dạy quốc tế và “đổ đầy” thông tin cho học viên, nhưng theo chị Ngô Nữ Huyền Trang (lớp MPP21-LM), ở Fulbright, giảng viên là những người đã thổi hồn cho bài giảng một cách đầy sáng tạo.

Học viên Ngô Nữ Huyền Trang

Cách giảng dạy của các thầy cô làm học viên yêu môn học, tò mò và khao khát kiến thức để muốn tìm hiểu về môn học không chỉ giới hạn trong những điều chúng tôi được “đổ đầy”. Môi trường Fulbright với nhiều chất xúc tác từ thầy cô, bạn học và cách rèn luyện, thử thách đã khiến chúng tôi yêu kiến thức và đồng lòng cùng nhau đi tìm kiến thức mới chứ không chỉ dừng lại ở giáo trình”, chị Trang chia sẻ.

Tiến sĩ Trần Thị Miên Chi hiện là chuyên gia nghiên cứu, giảng viên Khoa Kinh tế và Tài chính, Trường đại học Queen Mary, London, Vương quốc Anh, từng là học viên  của FETP trước khi bước vào con đường học thuật. Chị cho rằng, việc đạt được kiểm định NASPAA là bước đầu để trường Fulbright hòa nhập vào môi trường học thuật quốc tế, từ đó tạo ra những đóng góp lớn hơn cho xã hội Việt Nam.

Với những nỗ lực không ngừng nghỉ để đưa ra các nghiên cứu học thuật và chương trình giảng dạy tiệm cận với chuẩn mực thế giới, tôi kỳ vọng vào một ngày không xa, học viên trường Fulbright có thể sử dụng tấm bằng, kiến thức và kĩ năng của mình tự tin ứng tuyển vào bất kì một vị trí nào trên thị trường lao động quốc tế. FSPPM làm tôi liên tưởng đến một ngôi trường hàng đầu về kinh tế và chính sách tại Anh, chuyên đào tạo các nhà lãnh đạo và chính khách từ các nước, đó là trường London School of Economics and Political Science (LSE). Tôi mong được nhìn thấy trường Fulbright sẽ sớm nằm trong danh sách các trường hàng đầu thế giới của trang xếp hạng danh tiếng – Time Higher Education (THE)”.

Xuân Linh

Tiến sĩ Lê Thái Hà là Giám đốc Nghiên cứu và Giảng viên cao cấp của Trường Quản lý và Chính sách công Fulbright, Đại học Fulbright Việt Nam. Cô có bằng Cử nhân (Honours Degree) và Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), Singapore, nơi cô hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh Tiến sĩ trong vòng hai năm.

Trước khi gia nhập Đại học Fulbright Việt Nam, Tiến sĩ Thái Hà đảm nhiệm vị trí Giảng viên cao cấp tại Đại học RMIT Việt Nam nơi cô làm việc trong 7 năm. Các lĩnh vực nghiên cứu chính của cô bao gồm Kinh tế năng lượng, Kinh tế môi trường và Kinh tế ứng dụng.

Tiến sĩ Thái Hà đã công bố khoảng 30 bài báo nghiên cứu khoa học trên các tạp chí học thuật quốc tế uy tín, bao gồm nhiều tạp chí hàng đầu trong các lĩnh vực kinh tế ứng dụng, kinh tế năng lượng và môi trường.

Theo bảng xếp hạng của dự án Nghiên cứu kinh tế RePEC được công bố vào cuối tháng 9/2019, Tiến sỹ Thái Hà đứng thứ 4 về công bố khoa học trong nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam tính từ trước đến nay và đứng thứ 2 tính trong 10 năm trở lại đây. Cô đã tư vấn cho Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) (Trụ sở chính), Viện ADB (ADBI) và Viện Nghiên cứu Kinh tế cho ASEAN và Đông Á (ERIA).

Tiến sĩ Lê Thái Hà

Tiến sĩ Thái Hà là người nhận được nhiều nguồn Tài trợ nghiên cứu uy tín như Tài trợ Phát triển và Thương mại Thái Bình Dương (PAFTAD) cho Học giả trẻ năm 2013, Tài trợ “Public Diplomacy Federal Assistance Awards” của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018, và Tài trợ từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn năm 2019 với tư cách là trưởng nhóm nghiên cứu.

Tiến sĩ Thái Hà cũng đảm nhiệm vai trò biên tập cho một số tạp chí khoa học quốc tế uy tín, như làm Phó Tổng Biên tập Tạp chí Journal of Economic Development, được tài trợ bởi Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Hàn Quốc (NRF) và làm thành viên Hội đồng Biên tập cho “Springer New Monograph Series, New Frontiers in Regional Science: Asian Perspectives” (Springer Nature) và Tạp chí Singapore Economic Review, một trong những tạp chí kinh tế uy tín và lâu đời nhất ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Từ ngày 14-15/12/2018, Tiến sĩ Yooil Bae, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright đã tham dự và thuyết trình tại Hội thảo thường niên của Hiệp hội Hành chính công Hàn Quốc ở Seoul.

Bài thuyết trình của Tiến sĩ Yooil tập trung vào sự chuyển biến gần đây trong khung phân tích quản trị so sánh “bên trong quốc gia” của giới học thuật quốc tế và ý nghĩa của xu thế này đối với lĩnh vực nghiên cứu phân cấp (decentralization) ở Hàn Quốc.

Ngoài ra, ông cũng chuẩn bị xuất bản quyển sách có tựa đề “Dân chủ Địa phương Kép ở Hàn Quốc: Ý tưởng, Thể chế và các dạng thức phân cấp” (ngôn ngữ Hàn Quốc, năm 2018).

Quyển sách đánh giá và thuật lại quá trình phát triển của mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương ở Hàn Quốc từ góc độ so sánh.

 

Viết cho những người Thầy đáng kính của tôi,

Tôi có một đặc ân lớn trong hành trình học tập đó là có sự đồng hành của những Thầy, Cô đáng kính trọng.

Sau khi bị 7 nhà trẻ từ chối đón nhận, tôi đã gặp được cô giáo đầu tiên của mình khi 4 tuổi. Không ai thực sự muốn đón nhận một đứa trẻ ít nói hay bị ốm đau tái nhợt cả.

Chỉ có Cô sẵn sàng chăm sóc tôi, và lần đầu tiên trong đời, tôi nhận được tình yêu thương từ một người khác ngoài gia đình tôi.

Vệt may mắn của tôi còn tiếp diễn, với một giáo viên tiếng Anh, người đã mắng tôi trong ngày đầu tiên đến lớp, nhưng đã dành cho tôi một khóa học dạy kèm miễn phí trong hai tuần.

Suốt 3 năm học một môn học (Hoá học, nếu bạn có ý định hỏi), tôi chẳng biết gì cả, nhưng Thầy giáo khăng khăng cho rằng tôi “thông minh” và luôn ủng hộ tôi theo đuổi đam mê của mình vốn chả liên quan gì đến khoa học, ngay cả sau khi tốt nghiệp.

Những “người cổ vũ” như vậy đã khiến tôi tin rằng tôi phải làm điều gì đó đúng đắn để xứng đáng với lòng tin của họ, để tôi cảm thấy mình là người có năng lực. Được trao quyền. Xứng đáng.

Và sau đó có một trường đại học.

“Ở đây, tại Fulbright (Đại học Fulbright Việt Nam), mỗi ngày là một sự ngạc nhiên khi tôi được chứng kiến các giảng viên phá vỡ những giới hạn của giáo dục. 

Họ đã đóng nhiều vai trò khác nhau: từ cố vấn, đối tác, bạn bè, đồng nghiệp…Bằng cách đó, họ đã định nghĩa lại về “nghề dạy học”.

Ở Fulbright, chúng tôi thường nói về sự linh hoạt. Sự học không bao giờ đóng khung trong một lớp học. Việc học diễn ra mọi lúc, mọi nơi.

Từ khuôn viên trường ở Crescent, cho tới kí túc xá, và ngoài kia, ở thành phố Hồ Chí Minh, cũng như ở khắp Việt Nam và thế giới. Cho dù chúng tôi có đi nơi đâu, những kỹ năng chúng tôi được học ở đây sẽ luôn hữu dụng. 

Suốt hai tháng qua, tôi chẳng mấy khi cập nhật về cuộc sống đại học của mình, bởi tôi quá bận rộn tận hưởng cuộc sống đó. Tôi thuộc về nơi này.

Tôi yêu cả những cuộc cãi vã lúc nửa đêm vì bài tập về nhà, yêu cả những khi đờ đẫn vô hồn khi nghe tên mình được xướng lên cho một cuộc họp (mà thi thoảng tôi bỏ lỡ, hoặc đến muộn). 

Quá trình trưởng thành này sẽ không thể xảy ra nếu không có những giảng viên tận tụy của Fulbright.

Tôi muốn cảm ơn họ vì điều đó. Tôi muốn cảm ơn họ vì những buổi trò chuyện, những bài giảng, vì đã mặc áo dài truyền thống của Việt Nam hay chỉ đơn giản nhẹ nhàng hỏi “Chuyện gì xảy ra với mái tóc highlight màu xanh của em vậy?” (Trong khi mẹ tôi nói rằng, tôi trông như con vẹt và phải nhuộm đen lại ngay lập tức).

Trương Nguyễn Hoài Minh

(Sinh viên Năm học Đồng Kiến tạo)

Samhitha Raj nhận bằng Tiến sĩ về Phân tử, Tế bào, và Sự tiến hóa trong Sinh học tại Đại học Michigan (UofM). Luận án của bà tìm hiểu về ảnh hưởng của hormon tuyến giáp lên những thay đổi biểu sinh cụ thể. 

Và ý nghĩa của những biến đổi này đối với sự điều chỉnh gen đã đóng góp rất nhiều trong việc xác định được vai trò trọng yếu và trung tâm của hormon tuyến giáp trong việc điều chỉnh sự khử methy DNA trong quá trình phát triển não bộ của động vật có xương sống. 

Samhitha là người ủng hộ mạnh mẽ việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về khoa học và giáo dục. Sau khi nhận được Chứng chỉ Giảng dạy của UofM, bà trở thành thành viên của một số chương trình tiếp cận giáo dục, nhằm mục đích tạo ra niềm hứng thú trong nghiên cứu khoa học sinh học cho các sinh viên chưa được quan tâm đúng mức. 

Bà cũng rất thích thú với việc phát triển các chiến lược hiệu quả để tạo ra phương pháp sư phạm thành công, cũng như cung cấp sự tiếp cận và thúc đẩy sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học. 

Samhitha tiếp tục truyền tải kiến thức khoa học của mình thông qua các chương trình giảng dạy và cố vấn trên toàn thế giới. Bà cũng rất vui mừng khi mang đến Fulbright những kinh nghiệm này trong vai trò là nhà giáo dục cũng như cố vấn. 

Tiến sĩ KinHo Chan và Tiến sỹ Samhitha Raj từ Hoa Kỳ đã gia nhập đội ngũ giảng viên sáng lập của Đại học Fulbright Việt Nam. 

Trước khi gia nhập Đại học Fulbright Việt Nam, Tiến sĩ KinHo Chan có 16 năm giảng dạy ngành Tâm sinh lí học tại Đại học Hartwick, Hoa Kỳ. Sau khi hoàn tất trung học phổ thông tại Hongkong, ông đến Mỹ và theo học ngành cử nhân tâm lí học Đại học Houghton, lấy bằng Tiến sĩ ngành khoa học não bộ (neuroscience) tại Đại học Purdue. 

Các nghiên cứu của KinHo tập trung vào những ảnh hưởng về môi trường và não bộ đối với các hành vi ứng xử xã hội và nhận thức. Ông đã xuất bản các nghiên cứu trên nhiều tạp chí khoa học. 

Trong suốt sự nghiệp giảng dạy, KinHo đã cùng với các đồng nghiệp phát triển các khóa học mới được thiết kế đặc biệt nhằm giúp cho sinh viên hòa nhập tốt hơn với môi trường đại học, cũng như khởi xướng và thực thi nhiều sáng kiến mới nhằm cải thiện các nỗ lực tích hợp các hoạt động giảng dạy và ngoại khóa phục vụ cho sứ  mệnh của trường.

Giáo sư Naoko Ellis, Giáo sư tại Khoa Hóa học và Kỹ thuật Sinh học tại Đại học British Columbia (UBC) nhận lời làm Cố vấn cho Đại học Fulbright Việt Nam. 

Giáo sư Naoko Ellis giảng dạy Kỹ thuật Hóa học tại Đại học British Columbia (UBC) ở Canada. Bà quan tâm đến năng lượng sạch, và đã nghiên cứu để tạo ra năng lượng và các chất hóa học từ chất thải gỗ và các loại chất thải khác. 

Qua những kinh nghiệm học hỏi được từ dự án dầu diesel sinh học, cách tái xử lý dầu thực vật bỏ đi để sử dụng trong các xe tải sử dụng dầu diesel trong khuôn viên trường tại UBC, Naoko muốn tìm ra cách để áp dụng chu trình này ở quy mô cộng đồng và khu vực. 

Bà thích làm việc với sinh viên trong việc hỗ trợ các phong trào có tầm ảnh hưởng trong khuôn viên trường, chẳng hạn như dự án dầu diesel sinh học và phát triển bền vững. 

Bà có bằng Tiến sỹ (UBC, 2003); Thạc sĩ khoa học tự nhiên (Western, 1993); và Cử nhân khoa học tự nhiên (bằng danh dự, Waterloo, 1991). Bà là thành viên của Hiệp hội Kỹ sư và chuyên gia địa chất học của BC; và Đoàn thể Kỹ thuật Hóa học Canada (Bà hiện nằm trong ban quản trị của tổ chức này). 

Naoko Ellis hiện là Giám đốc Nghiên cứu Cấp cao của Viện Thu giữ và Chuyển đổi Carbon (CCCI), đây là hiệp hội hợp tác giữa Viện Nghiên cứu CMC, Đại học British Columbia và Tập đoàn Nghiên cứu BC để đánh giá và phát triển các lựa chọn về kinh tế và kỹ thuật trong việc chuyển đổi và thu giữ carbon. 

CCCI được đặt tại Trung tâm Thương mại hóa và Đổi mới Công nghệ Nghiên cứu (TCIC) trên Đảo Mitchell ở Vancouver. 

“Chúng ta có trách nhiệm và vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho thế hệ lãnh đạo mai sau, những người sẽ dẫn đường trong thế giới đầy phức tạp này. Nhiệm vụ của tôi với vai trò một nhà giáo dục là tập trung vào việc giáo dục và phát triển những nhà lãnh đạo tương lai trong ngành kỹ thuật. 

Giờ tôi càng hiểu rõ hơn một điều là giúp sinh viên tưởng tượng và xây dựng một thế giới bền vững, giúp họ làm việc với những vấn đề khó khăn, và chuẩn bị để họ không chỉ có khả năng làm việc trong môi trường đa ngành mà còn thành công hơn trong những môi trường này. Đây chính là chìa khóa để tạo ra những nhà lãnh đạo tương lai”, Giáo sư Naoko Ellis cho biết. 

Pamela Stacey, giảng viên từ Hoa Kỳ gia nhập đội ngũ giảng viên sáng lập Đại học Fulbright Việt Nam. 

 

Trước khi gia nhập Fulbright, Pamela Stacey đã làm việc tại Đại học RMIT Việt Nam từ năm 2017  với tư cách là một Giảng viên tiếng Anh và Kỹ năng Học thuật. Tại RMIT, Pamela hỗ trợ các sinh viên Việt Nam năm nhất trong việc nâng cao khả năng tiếng Anh và kỹ năng học thuật trong trường đại học trước và trong suốt quá trình học tại trường. 

Trước khi đến Việt Nam, Pamela đã giảng dạy một chương trình tiếng Anh chuyên sâu ở Trường đại học Cộng đồng Kapiʻolani và lãnh đạo một nhóm đồng nghiệp là các giáo viên và cố vấn tại một trung tâm hỗ trợ học tập ở Đại học Hawaiʻi. Cô cũng đã dạy tiếng Anh ở Seoul, Hàn Quốc và ở tiểu bang Michigan. 

Pamela hoàn thành chương trình Thạc sĩ tại Đại học Hawaiʻi vào năm 2014. Trong quá trình hoàn tất chương trình nghiên cứu sau đại học, bà thực hiện khá nhiều nghiên cứu trong những lĩnh vực ngôn ngữ xã hội tương tác (IS), một hình thức phân tích diễn ngôn. 

Trong quá trình giảng dạy các chương trình hỗ trợ học tập, bà đã xác định các “động thái” hành vi cực nhỏ, chẳng hạn như tiếng cười, việc kể các câu chuyện, tạm dừng và gián đoạn, mà giảng viên và sinh viên thực hiện trong các cuộc gặp gỡ một-đối-một liên quan đến việc đọc và viết. 

Những động thái này định hình một phần của bức tranh lớn hơn mà có thể xác định sự thành công của các tương tác học tập một-đối-một. 

Trong suốt quá trình học Thạc sĩ, Pamela đã hoàn thành công việc giảng dạy tạm thời tại Đại học Ubon Ratchathani, Thái Lan; tại đây bà đã tiến hành nghiên cứu về các dự án viết bài luận nhóm, cũng như về động lực và cá tính của sinh viên Thái Lan. 

Sau khi nhận bằng thạc sỹ, bà tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển việc viết lách học thuật cho sinh viên đại học. 

Trước khi theo đuổi những nghiên cứu sau đại học, Pamela đã nhận được bằng cử nhân về Văn học và Ngôn ngữ Anh tại Đại học Michigan – đây cũng là nơi đầu tiên khiến cô có mối quan tâm đến việc giảng dạy về ngôn ngữ. 

Pamela cũng sử dụng việc dạy học của mình để tạo ra cho tất cả sinh viên, bao gồm cả những người trong nhóm LGBTQIA+, môi trường học tập an toàn và hòa nhập. 

Bà thấy việc là một giáo viên nữ đồng tính đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp những hình mẫu tích cực cho các bạn trẻ đồng tính. 

Trong quá khứ, bà đã sử dụng mối quan hệ của mình với các cộng đồng và tổ chức đồng tính luyến ái địa phương để xây dựng cầu nối giữa các trường đại học của bà và những cộng đồng này, vì lợi ích của cả hai bên. Bà hy vọng sẽ tiếp tục công việc này tại Fulbright.

“Việc gia nhập Đại học Fulbright Việt Nam khiến tôi cực kì xúc động. Với tôi, đây chính là một cơ hội ngàn năm có một để tham gia xây dựng một trải nghiệm học tập hợp tác, thử thách và lấy sinh viên làm trung tâm ngay từ những bước đầu. Trường đại học này đại diện cho phương pháp tiếp cận đổi mới trong giáo dục đại học, không chỉ ở Việt Nam, mà còn trên toàn thế giới, và tôi rất vinh dự được là một phần của quá trình này.” 

“Dự án đầu tiên của tôi tại Fulbright sẽ là khởi động và thực hiện Chương trình Cầu nối Đại học cho Năm học Đồng Kiến tạo. 

Tôi rất nóng lòng để được gặp các sinh viên của Chương trình Cầu nối Đại học năm nay, để chia sẻ với họ tất cả ý tưởng của tôi về cách chúng tôi hỗ trợ cho họ trong quá trình chuyển đổi này một cách tốt nhất và lắng nghe những ý kiến và phản hồi của họ với tư tưởng cởi mở. 

Tôi dự định xây dựng một cộng đồng để các sinh viên có thể hỗ trợ lẫn nhau, cộng tác với nhau, học hỏi từ nhau và học tập với nhau. 

Ở từng giai đoạn, các sinh viên của Chương trình Cầu nối Đại học sắp tới sẽ được khuyến khích chia sẻ những suy nghĩ và kinh nghiệm của họ, và sau đó những trải nghiệm này sẽ được tiếp nhận và phản hồi để giúp chương trình này trở nên tốt nhất có thể.” 

“Không giống như các Chương trình Cầu nối tiếng Anh truyền thống, tôi đang lên kế hoạch cho một chương trình không chỉ là một môi trường chỉ thuần tiếng Anh. Tôi đem tất cả bản thân mình vào trong những bài giảng ở trường, và tôi cũng muốn học sinh của mình thể hiện hết những gì mà bản thân họ có, bao gồm cả kiến thức về ngôn ngữ mẹ đẻ. 

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng học sinh học ngôn ngữ tốt nhất khi được khuyến khích tích hợp ngôn ngữ mới, tiếng Anh, với tiếng mẹ đẻ của mình theo những cách thích hợp, chứ không chỉ là học nó ở trong lớp rồi thôi. Dĩ nhiên, với những hoạt động mà nói tiếng Anh là mục đích chính thì sinh viên cần phải sử dụng tiếng Anh. 

Tuy nhiên, với những hoạt động khác, mà mục đích là cùng nhau viết các bài luận, thì sinh viên có thể thảo luận và tranh biện với nhau bằng tiếng Việt (hay tiếng mẹ đẻ khác). 

Tôi mong sinh viên giữ đầu óc cởi mở và suy nghĩ về cách giúp họ tự học tốt nhất – chương trình này sẽ đem lại cho họ những trải nghiệm học tiếng Anh hoàn toàn khác so với những cách họ được học từ trước đến nay!”