23 Tháng bốn, 2019

Giáo dục STEAM ở Việt Nam*

23 Tháng bốn, 2019

Bài viết lấy chất liệu từ hội thảo về giáo dục STEAM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Nghệ thuật và Toán học) ở Việt Nam do F-Green, câu lạc bộ sinh viên Fulbright tổ chức tháng 4/2019 tại Đại học Fulbright Việt Nam

Cuối những năm thập niên 90, Bùi Thế Duy là một hạt giống đỏ trong đội tuyển Olympic Tin học quốc gia của Việt Nam. Trước khi giành huy chương Đồng Olympic Tin học quốc tế ở Hà Lan (1995) và Hungary (1996), cậu học sinh chuyên Toán-Tin của Đại học Quốc gia Hà Nội từng giành giải nhất học sinh giỏi Tin học Toàn quốc. Với thành tích học xuất sắc, chỉ trong 6 năm, Bùi Thế Duy đã hoàn thành đại học và bảo vệ xong luận án Tiến sỹ khi mới chỉ 26 tuổi.

Năm 31 tuổi, Duy là Phó giáo sư trẻ nhất ngành Tin học và làm Chủ nhiệm khoa Công nghệ thông tin – Đại học Công nghệ (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Sau đó, ông vào làm công tác quản lý Nhà nước (Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ), phụ trách về công nghệ cao, đổi mới về khoa học và công nghệ, thực hiện Chiến lược khoa học và công nghệ (2011-2020).


PGS.TS Bùi Thế Duy

Nhìn lại quãng dài sự nghiệp, PGS.TS Bùi Thế Duy tự hào nhắc về nguồn gốc là “dân chuyên Toán” của mình, được học tại nơi đào tạo hàng đầu về khoa học tự nhiên của Việt Nam. Ông kể, những năm đầu 90, Đại học Quốc gia Hà Nội từng đón những đoàn giáo viên, học sinh, phóng viên của Thái Lan đến tìm hiểu vì sao học sinh Việt Nam có nền tảng tốt về tin học, toán, tự nhiên đến vậy. Lúc đó, Thái Lan còn chưa có tên trong bảng thành tích Toán học, Tin học quốc tế.

Truyền thống học giỏi những môn tự nhiên của học sinh Việt Nam ngày nay vẫn không thay đổi, đạt nhiều thành tích cao trong các cuộc thi Olympic, quốc tế thường niên. Không ít du học sinh Việt Nam ở nước ngoài thậm chí thành tích học tập đứng đầu lớp.

Nhưng có một thực tế trong khoa học tự nhiên, theo PGS.TS Bùi Thế Duy, đó là học sinh Việt Nam chỉ thiên về giỏi giải đề, hay về giải quyết vấn đề. Nếu đặt trong tổng thể cạnh tranh, học sinh Việt Nam vẫn bị lép vế so với học sinh phương Tây, Mỹ về sức sáng tạo, sự định hướng. Do đó họ lép vế hơn trong cạnh tranh các vị trí nghề nghiệp cao cấp đòi hỏi năng lực sáng tạo, năng lực định hướng trong khoa học kỹ thuật, công nghệ.

“Trong chuỗi phân phối giá trị, mình sẽ nằm ở phần cực nhất, tức thực hiện giải quyết vấn đề, chiếm khoảng 20% của chuỗi giá trị. Còn những người định hướng, sáng tạo, họ tư vấn bài toán cho khách hàng nhận 80% chi phí mà lại làm ít thời gian hơn”, ông nêu ví dụ.

Khủng hoảng Sputnik thập niên 50 (phản ứng của Mỹ trước việc Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất thành công) dẫn đến việc Mỹ đổ hàng tỷ đô la vào hệ thống giáo dục về khoa học công nghệ, từ mọi cấp giáo dục. Và không chỉ nước Mỹ, cả thế giới sau đó bùng nổ xu hướng này. Lấy dẫn chứng này, ông Duy lập luận, nền tảng của một quốc gia phát triển luôn phải là khoa học công nghệ và có những đội ngũ kỹ sư làm chủ công nghệ. Nhìn về khoảng cách, ông cho rằng, Việt Nam “đã thua xa” các nước. Có thời kỳ, giáo dục đại học của Việt Nam chỉ tập trung vào ngành ngân hàng, tài chính.

“Đã có lúc thấy gần như đâu cũng thấy đào tạo ngân hàng, tài chính”, ông cho hay và nhấn mạnh STEM/STEAM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Nghệ thuật và Toán học) là một nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang bao phủ ảnh hưởng đến toàn bộ các lĩnh vực ở mức “kinh khủng”.

STEAM: nguy cơ xen trong cơ hội?

Tiến sĩ Ryan Derby-Talbot, Hiệu trưởng Đại học Fulbright nhắc lại một xu hướng của thập niên 50s, 60s đó là chỉ cần học giỏi toán, công nghệ, sẽ có một công việc tốt. Hình ảnh mọi người mơ ước đó là mặc comple đến công sở, có công việc tốt đẹp. Trong vài chục năm qua, công nghệ đã tạo ra những thay đổi thần kỳ, mang đến những tiến bộ trong chăm sóc sức khỏe cho con người. Tuy nhiên, công nghệ cũng mang tới nhiều vấn đề phức tạp hơn.


Tiến sĩ Ryan Derby-Talbot

Tại đại học Fulbright Việt Nam gần đây có các cuộc nói chuyện về chủ đề trí tuệ nhân tạo. Công nghệ phát triển phá hủy những mối quan hệ tương tác con người với con người, giao tiếp ảo thay thực. Công nghệ cũng đào sâu khoảng cách giàu nghèo, người có điều kiện tiếp cận công nghệ sẽ có cuộc sống, thu nhập tốt, còn không sẽ bị bỏ lại phía sau.

Tiến sĩ Ryan Derby-Talbot cho rằng, STEAM nên nhìn nhận ở cả hai khía cạnh: nguy cơ, cơ hội. STEAM giúp phát triển tốt hơn nền tảng khoa học công nghệ nhưng thu hẹp quan tâm vào con người. Nó sẽ là cơ hội nếu tiếp cận đúng – khi STEAM được tiếp cận không đơn thuần là một dãy những môn học mà là bộ công cụ hình thành nền tảng tư duy tốt, qua đó giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Và STEAM có ý nghĩa khi là kết quả của một quá trình hơn là sự tập hợp của 5 môn học riêng lẻ.

Phó Hiệu trưởng Đại học Khoa học Tự nhiên, PGS.TS Trần Minh Triết cho biết, ở Việt Nam, hầu hết lực lượng giảng dạy STEM/STEAM đến từ nhiều nền tảng khác nhau, ít người được đào tạo đầy đủ bài bản về STEM/STEAM.  Ông đồng tình, STEM/STEAM không phải con đường cố định về một kết quả duy nhất vì không gian của nó có độ dao động lớn.



PGS.TS Trần Minh Triết

“Đào tạo cần phải đặt ra tầm nhìn không phải kết quả cuối cùng của những môn học mà kết quả là cách trưởng thành về tư duy, rèn tư duy, kỹ năng cho học sinh. Trong đó, vai trò định hướng của giáo viên là quan trọng”, TS Triết nhấn mạnh.

STEM/STEAM đã được xã hội hóa rộng rãi ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là dạy như thế nào.

Đảo ngược tư duy cũ

Từ những trải nghiệm xây dựng chương trình tại Fulbright, TS Ryan-Derby Talbot đề xuất sự thay đổi tư duy, đảo ngược lại cách thức cũ từng dạy về các môn học. Thay vì lâu nay xác định một danh sách các môn cần học trước tiên, giảng viên có thể thay đổi theo hướng dạy bắt đầu từ câu hỏi, đặt vấn đề. Vấn đề đó cần kiến thức, kỹ năng nào sẽ đào sâu giảng dạy tích hợp theo hướng cần thiết của vấn đề đó.

Ở Fulbright, cách thức này tạo động lực cho học sinh bước ra khỏi vùng an toàn. Trong năm thứ nhất, sinh viên Fulbright phải học một môn học nền tảng là Scientific Inquitry (Khám phá Thế giới tự nhiên). Đó không phải là môn học cung cấp những kiến thức riêng lẻ về vật lý, hóa học, toán học mà sinh viên sẽ học cách các nhà khoa học suy nghĩ, tư duy vấn đề.

Học cách họ tư duy thông qua những câu hỏi về vấn đề từ đơn giản đến phức tạp, quá trình tư duy ra sao. Giáo viên không phải giảng dạy theo hướng đưa ra một câu trả lời hay học sinh không phải học thuộc phương trình để giải toán. Sinh viên học tốt nhất là tìm được lời giải trước khi được cho mẫu giải.

Tiến sĩ Ryan cũng lưu ý một cấu trúc quan trọng ở Fulbright đó là sinh viên học và làm việc theo dự án thực tế thay vì kiểm tra kiến thức thông qua các bài thi, giúp cho sinh viên có những kỹ năng bước ra ngoài cuộc sống một cách tự tin.

“Bảng điểm không đủ đánh giá năng lực của mỗi sinh viên. Dự án có thể như một hồ sơ năng lực cho thấy sinh viên đó có ý tưởng, tiên phong và thực hiện được nó như thế nào”, ông cho biết.

PGS.TS Bùi Thế Duy đồng tình quan điểm giáo dục thay đổi theo hướng các chương trình dạy học tạo dựng năng lực thay vì dạy kiến thức. Đó là dạng năng lực giúp con người thích ứng chuyển đổi. Hiện nay, ở Việt Nam, Bộ giáo dục và đào tạo đã chú trọng đưa STEM/STEAM vào chương trình học, tích hợp thêm học Tiếng Anh qua Toán, Vật lý…

“Chủ trương chính sách của Việt Nam coi đào tạo STEM/STEAM là cơ hội sống còn để chuẩn bị lực lượng bắt kịp thế giới trong tương lai”, ông cho hay. Thực tế ở Việt Nam đã có những thử nghiệm đưa vào bậc đại học đó là thay vì học hết môn làm kiểm tra thì thay bằng làm dự án. Nhưng làm dự án tốn nhiều công sức cho giáo viên trong khi thu nhập từ công việc không thay đổi. Nếu bị nhà trường bắt buộc phải làm thì giáo viên mới làm. Ông gợi ý gắn các dự án với công việc nghiên cứu, sẽ làm giáo viên hứng thú khi soạn giáo trình.


Nguyễn Hữu Phúc Ngân – câu lạc bộ sinh viên Fulbright
F-Green

Tiến sĩ Ryan Derby-Talbot bổ sung thêm, Fulbright không tách kiến thức ra khỏi những môn học dựa vào dự án. Sẽ có một thang đánh giá sinh viên dựa trên năng lực, kỹ năng phát triển được từ dự án. Có nghĩa môn học không chỉ thỏa mãn việc trang bị nội dung kiến thức, mà sinh viên sẽ phát triển được những kỹ năng căn bản thông qua làm dự án liên quan đến môn học đó.

PGS.TS Bùi Thế Duy nhấn mạnh bối cảnh xã hội hóa giáo dục STEM/STEAM nhưng không ủng hộ nó là một phong trào. Theo ông, quan trọng nhất là người giảng dạy và cần thay đổi phương pháp giảng dạy, làm thế nào biến đào tạo nội dung kiến thức thành kỹ năng, đặc biệt là những kỹ năng có thể chuyển đổi để con người thích ứng thực tiễn thay đổi nhanh chóng.

Linh Vũ

Related Articles

Đăng ký thông tin