19 Tháng mười một, 2020

Đôi điều về việc chuyển thể tác phẩm Truyện Kiều sang Cải Lương Kim Vân Kiều

19 Tháng mười một, 2020

Năm 1918, gánh hát Thầy Năm Tú – Mỹ Tho khai diễn vở cải lương đầu tiên là Kim Vân Kiều, khai phóng một loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc với những đặc thù của xã hội thị dân. Tại sao không là tác phẩm nào mà lại là dựa theo Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du? Phải chăng, một trong những lý do đó chính là: một loại hình sân khấu Việt Nam phục vụ cho người Việt thì không gì hợp lý hơn bằng chính trên nền cốt của một tác phẩm đã thuộc về văn hoá Việt. Truyện Kiều là văn hoá Việt. Cụ Phạm Quỳnh đã nhận định: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn, là vậy.

Đây cũng là khoảng thời gian phát triển mạnh mẽ của quá trình hiện đại hoá chữ quốc ngữ và nên quốc văn nước nhà. Sử dụng 1 tác phẩm văn học kinh điển để chuyển lên sân khấu cũng là nhằm làm rõ hơn vẻ đẹp của ngôn ngữ, cũng chính là chuyên chở sức sống của một dân tộc vốn đã bị vây hãm bởi âm mưu đồng hoá chữ Việt cả ngàn năm nhưng vẫn giữ gìn tính dị biệt – đặc thù của riêng mình mà không hề khước từ các cơ hội chọn lọc tinh hoa cộng đồng thế giới. Từ tiếng Nôm đến chữ Quốc ngữ là minh chứng.

Trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của tôi, Truyện Kiều gắn liền với các cột mốc lớn:

  • Lập đoàn Bạch Tuyết – Hùng Cường, công diễn bộ ba về Kiều
  • Vở tốt nghiệp đạo diễn tại Bulgaria
  • Thực hiện vở cải lương bằng hình thức video đầu tiên, năm 1989.

XEM VIDEO NGHỆ SĨ BẠCH TUYẾT DIỄN GIẢI VỀ CHUYỂN THỂ TRUYỆN KIỀU SANG CẢI LƯƠNG

Trác tuyệt ngôn ngữ

Chuyển thể từ Truyện Kiều sang cải lương Kim Vân Kiều là chuyển thể từ một loại hình văn học này sang loại hình văn học khác, chuyển thể từ một loại hình văn học với đặc trưng là nghệ thuật của ngôn từ sang một loại hình nghệ thuật mà đặc trưng là nghệ thuật biểu diễn.

Do đó, nó sẽ bao hàm luôn những lợi thế của từng loại hình nhưng đồng thời cũng bị hạn chế nhất định bởi những bất khả mà tính năng của mỗi loại hình sẽ khó phát huy cho bằng hết.

Truyện Kiều là tác phẩm có tính tự sự cao. Trong khả năng gần như vô tận của biểu đạt ngôn từ, những gì cụ Nguyễn Du tạo tác đã là trác tuyệt, nó vẽ ra khả năng tưởng tượng trong trí óc người đọc về một Truyện Kiều của riêng mình. Vậy khi dịch chuyển sang đời sống sân khấu, mỗi một nàng Kiều chàng Kim đều phải hiển thị rõ ràng, cụ thể trước mắt khán giả, tác giả (chuyển thể), đạo diễn và diễn viên phải phác thảo như thế nào mà vẫn đảm bảo chất tự sự – qua cốt truyện, lại phát huy tính kịch – đối với một tác phẩm biểu diễn?

Dẫn chứng 1

Cảnh Kim Kiều trao duyên, Kiều đàn…, dây đàn dứt, như báo hiệu sự trắc trở…ví dụ :

Dù không thể đưa cảnh Kiều ở lầu Ngưng Bích lên sân khấu với sức sáng tạo đỉnh cao về ngôn từ của nguyên tác Truyện Kiều nhưng trong nhiều phân cảnh, kể cả tái hiện và đồng hiện Kiều nhớ nhà, Kiều nhớ Kim Trọng… chúng tôi đều chọn bối cảnh “liên tưởng Ngưng Bích” để biểu đạt tâm trạng nhân vật. Đảm bảo sự xác thực, tính tôn trọng nguyên tác trong quá trình chuyển thể mà vẫn không đánh mất tính sáng tạo của loại hình nghệ thuật biểu diễn – một chiếc áo mới cho nguyên tác. (Thân khuê các vười xuân ….Nhưng mấy ai thương mình ..Thanh lâu khép đời hoa … Ôi sắc tài chẳng qua mệnh trời, chôn thân chốn lầu xanh…)

Dẫn chứng 2

Cảnh đưa âm nhạc, đối thoại bằng âm nhạc trong tiệc cờ của Kiều – Thúc. (nhạc)..mới thua chốt, sao đành thua , sao buồn nhiều .Chốt không khác …Kiều ơi ! Em trong như trăng, sắc tài kém ai! Không đâu! Đời em đau thương như chốt, liều thân giữa giang hà! )

Phá vỡ hệ thống kết cấu của văn học cổ điển, của truyện Nôm nói chung là lối kết cấu trình bày tuần tự theo mạch thẳng: gặp gỡ- thề bồi; đính ước – lưu lạc – đoàn viên, bằng cách đảo lộn thời gian, xen vào nhiều đoạn hồi ức, chồng lấn ký ức…

Dẫn chứng 3: Cảnh Kiều tưởng tượng ngày Kim Trọng trở lại được sân khấu hoá nội tâm của Kiều. Đặc biệt là cảnh Thúy Kiều vào chùa…

(Thơ) Nổi đau thấu đến tận trời, đa đoan phận bạc một đời oan khiên. Tiếng chuông công phu như tiếng gọi thiêng liêng vang vọng con tim dội về trần thế . Lời ước thệ năm xưa khác nào cơn chiêm bao mộng ảo, cửa Phật từ đây có thể nào lấp bằng bể khỏ cho nghiệp chướng tiền căn được giải kết luân …

                                                                        VỌNG CỔ

CÂU 4 / – …hồi.  Cuộc nhân sinh chìm nổi mệnh số long đong khó đứng khôn ngồi. Trút bỏ lớp bụi hồng đầy tanh hôi oán nghiệp, vinh nhục phí hoài tan hiệp cũng bằng không

Nhân duyên đâu lại còn mong,

Khởi điều thẹn phấn tủi hồng mà chi.

Tao nhân mặc khách cố tri,

Phong trần lỡ vận phân kỳ nghìnthu. (nói ) Xin vĩnh biệt ! Kim Trọng :( kêu lớn ) Thúy Kiều !

                                                                        NHẠC

Lia nhân thế! Đành thế sao em? Đi đành sao em? 

Đời như hoa, dù đau thương, còn tương lai …

Sao đành đem thân nhà tu? Em ơi ! ! !

Số kiếp Vương Thúy Kiều, Đời hoa nhiều thương đau …

Như thuyền trôi không bờ…Đời hoa trôi muôn phương! 

200 năm sau, thế giới đương đại soi mình vào tác phẩm Kiều, vẫn còn đó “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, vẫn bao gia cảnh rơi vào thảm trạng bởi “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” – 1 nhát cắt của đời sống xã hội. Để thấy, 200 năm sau, hạnh phúc của những con người lương thiện, bé mọn trong xã hội vẫn đang là hành trình tìm kiếm, giữ gìn, bảo vệ, khát vọng. Nó chưa có điểm cuối và hẳn sẽ không bao giờ có.

Nghệ thuật “lên ngôi” chính là trong sự thấu cảm, đồng cảm và lên tiếng ấy.

Học theo Tố Như Tiên sinh, kẻ hậu bối chúng ta mong cũng chỉ “mua vui một vài trống canh” nên nương cậy vào Truyện Kiều mà chuyển thể – sáng tạo cũng không ngoài ngu ý tìm hiểu thêm cái hay cái đẹp của văn học nước nhà, bày tỏ tình yêu nối liền viên ngọc quý Truyện Kiều với nghệ thuật Cải lương dân tộc.  Và xin được hoà vào trong “10 năm gió bụi” của thi sĩ đất Long Thành, mà tấc lòng ưu ái những tháng ngày rêu phong cũ…

NSND, Tiến sĩ Bạch Tuyết

Related Articles

Đăng ký thông tin