22 Tháng mười một, 2021

Chủ tịch Đại học Fulbright: “Ấm lòng vì triết lý giáo dục khai phóng ngày càng được đón nhận.”

22 Tháng mười một, 2021

Từng là một nhà lãnh đạo ngân hàng, chuyên gia tài chính hàng đầu nhưng bà Đàm Bích Thủy đã quyết định “rẽ ngang”, dồn tâm ý cho giáo dục khi trở thành Chủ tịch Đại học Fulbright. Câu chuyện của bà đã truyền cảm hứng rất lớn cho cộng đồng trong thời gian qua. Nhân ngày 20/11, bà Đàm Bích Thủy đã trải lòng cùng Đầu tư Tài chính – VietnamFinance về lựa chọn của mình. (*)

Bà có thấy hạnh phúc với quãng thời gian làm việc tại Đại học Fulbright? Những kết quả công việc nào khiến bà cảm thấy ấm lòng nhất?

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghề giáo. Ba mẹ và em trai tôi đều giảng dạy đại học và làm nghiên cứu khoa học. Tôi học đại học chuyên ngành sư phạm, với định hướng sau này trở thành giáo viên. Nhưng dù không theo nghề giáo, tôi nghĩ rằng có lẽ tình yêu và mối quan tâm đối với giáo dục vẫn ở đâu đó trong tôi nên quyết định tham gia nhóm sáng lập Đại học Fulbright Việt Nam và trở thành chủ tịch đầu tiên của trường đến với tôi rất tự nhiên.

Công việc xây dựng một trường đại học từ ban đầu, lại theo đuổi một mô hình chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam, dĩ nhiên luôn có rất nhiều thách thức. Nhưng những niềm vui và khoảnh khắc bạn được tưởng thưởng thì không thể đong đếm được. Đó là những ngày đầu tiên khi trường mới thành lập, toàn bộ nhóm dự án làm việc trong một văn phòng chật hẹp ở Bitexco, miệt mài chuẩn bị cho kỳ tuyển sinh năm học đầu tiên. Không còn phân biệt ai làm học thuật, ai làm truyền thông, ai làm tài chính, tất cả mọi người đều chung tay cho một sứ mệnh: thuyết phục các bạn trẻ và ba mẹ tin tưởng, mạnh dạn dấn thân cùng chúng tôi trong hành trình đồng kiến tạo trường đại học giáo dục khai phóng đầu tiên của Việt Nam.

Tôi vẫn nhớ như in những buổi đầu tiên khi chúng tôi mời một nhóm học sinh và phụ huynh đến nói chuyện về mô hình giáo dục tại Fulbright. Có rất nhiều câu hỏi chất vấn và cả nghi ngờ về tính thực tiễn của giáo dục khai phóng bởi nó đi ngược với quan niệm phổ biến của các gia đình Việt Nam rằng “học đại học là để học lấy một nghề nào đó”. Nhiều người không thể hiểu vì sao các bạn sinh viên lại cần phải dành ít nhất năm đầu tiên ở Fulbright để tìm hiểu về nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau, từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nhân văn, nghệ thuật trước khi quyết định chọn một chuyên ngành cụ thể. Hay khi chúng tôi chia sẻ về mô hình hỗ trợ tài chính theo hoàn cảnh gia đình, không ít cha mẹ bày tỏ nghi ngại rằng những quyết định hỗ trợ tài chính của Trường có thể không công bằng khi có những người sẽ tìm cách trục lợi bằng việc cung cấp thông tin sai lệch.

Vì thế, bạn có thể hình dung ra chúng tôi cảm thấy ấm lòng đến thế nào khi triết lý giáo dục khai phóng giờ đây ngày càng được các bạn trẻ và gia đình, cũng như xã hội Việt Nam đón nhận như một trong những lựa chọn giáo dục mới. Hay khi tôi nhận được lá thư của một người mẹ có con nhận được hỗ trợ tài chính toàn phần tại Fulbright chia sẻ rằng quyết định của Trường đã giúp cho con chị có thể tiếp tục theo đuổi giấc mơ tưởng chừng phải gác lại vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn. Chị ấy viết rằng, chị sẽ thông báo ngay cho nhà trường khi gia cảnh tốt lên để trường có thể san sẻ cơ hội đó cho những bạn trẻ khác.

Theo bà, giáo dục đại học có vai trò như thế nào trong việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong giai đoạn phát triển sắp tới?

Trong lí thuyết “nguồn vốn con người” (human capital) nổi tiếng, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Gary Becker đã chỉ ra nguồn vốn con người thường chiếm từ 70-75% khả năng thịnh vượng của một quốc gia. Becker đã chỉ ra các nước châu Á từ Hàn Quốc đến Trung Quốc như là những ví dụ về những nền kinh tế đã sử dụng giáo dục để thúc đẩy tăng trưởng. Mặc dù có rất ít tài nguyên thiên nhiên, nhưng họ đầu tư mạnh cho hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học nhằm phát triển nguồn nhân lực của mình và gặt hái những phần thưởng xứng đáng.

Việt Nam cũng không là ngoại lệ nếu muốn học hỏi bài học thành công của họ. Vấn đề càng trở nên cấp bách hơn khi chúng ta đang sống trong thời đại mà những thay đổi diễn ra một cách chóng mặt và khó đoán định do tốc độ phát triển của khoa học công nghệ. Tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, trong khi mang lại những giá trị lớn lao cho xã hội thì đồng thời cũng dẫn tới nhiều xáo trộn chưa từng có về mặt kinh tế khi nhiều ngành nghề – từ các công việc lắp ráp theo dây chuyền đến bán lẻ và luật – có nguy cơ biến mất nhanh chóng.

Những xu hướng kể trên sẽ có tác động nghiêm trọng tới Việt Nam vì nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào sản xuất công nghiệp nhẹ và nông nghiệp. Trong khi đó, các hoạt động sản xuất thâm dụng lao động này sẽ ngày càng bị thu hẹp do tự động hóa và các tiến bộ công nghệ và nông nghiệp thì bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu. Để tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu kinh tế – xã hội tốt hơn, Việt Nam buộc phải chuyển đổi thành công sang các hoạt động kinh tế thâm dụng tri thức và giá trị gia tăng cao. Bởi vậy, lực lượng lao động có kỹ năng và chất lượng cao sẽ là điều kiện tiên quyết.

Đứng trước những thách thức như bà vừa đề cập, giáo dục đại học của Việt Nam cần có những thay đổi cơ bản nào trong thời gian tới để có thể tiệm cận dần với những nền giáo dục tiến bộ khác trên thế giới, thưa bà?

Mặc dù giáo dục đại học Việt Nam đang có những bước chuyển mình trong thời gian vừa qua nhưng chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế rằng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao và thực trạng giáo dục của Việt Nam. Mặc dù sinh viên Việt Nam đạt điểm số cao trong các kì thi chuẩn hoá, các nhà tuyển dụng lao động thường xuyên than phiền rằng sinh viên thiếu các kỹ năng cần thiết để làm việc hiệu quả. Thực trạng này được phản ánh rõ nét qua tỷ lệ thất nghiệp còn cao của những người tốt nghiệp đại học.

Trong khi đó, các bạn trẻ ngày nay phải đương đầu với một tương lai ngày càng khó đoán định mà chúng ta hay gọi là thế giới VUCA, được định hình bởi sự Biến động (Volatility), Bất định (Uncertainty), Phức tạp (Complexity) và Mơ hồ (Ambiguity). Hãy thử hình dung, nếu theo những dự báo khoa học hiện nay, khoảng 80% công việc của năm 2030, tức là 10 năm nữa, còn chưa xuất hiện. Rõ ràng, cách các trường đại học được thiết kế theo kiểu chỉ đào tạo những chuyên ngành hẹp như lâu nay đã trở nên lạc hậu với thời cuộc.

Tôi nghĩ suy cho cùng chúng ta cần quay trở về với sứ mệnh chân chính của giáo dục đại học, đó là “giúp người học thích ứng và quản lý tốt những thay đổi trong môi trường xã hội”. Từ những trải nghiệm của chính chúng tôi ở Đại học Fulbright 5 năm qua, tôi tin rằng giáo dục đại học của thế kỷ 21 phải làm thế nào để dạy cho sinh viên “học cách để học”, để họ có thể liên tục tái tạo và học hỏi những kỹ năng mới. Một phông nền kiến thức rộng, mang tính liên ngành và đa ngành, chú trọng những kỹ năng sống còn như tư duy phản biện, tư duy giải quyết vấn đề và sáng tạo có lẽ nên là những cấu phần không thể thiếu trong bất kỳ một mô hình giáo dục đại học nào.

Mới đây thôi, tôi nhận được chia sẻ từ một giám đốc nhân sự một công ty công nghệ cho biết rằng CEO của cô ấy đánh giá rất cao các sinh viên Fulbright đang thực tập tại đây vì kĩ năng thuyết trình, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và làm việc nhóm tốt hơn rất nhiều nhân viên hiện tại. Không biết bạn ấy có phóng đại lên không nhưng đó quả là một sự khích lệ đối với những người làm giáo dục ở Fulbright để chúng tôi kiên định con đường hiện tại.

Một thập kỷ qua chứng kiến dòng vốn đầu tư khá lớn từ các nhà đầu tư tư nhân cho giáo dục. Bà đánh giá thế nào về xu hướng xã hội hóa trong ngành giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng trong giai đoạn hiện nay? 

Một điều không thể phủ nhận là trong vòng mười năm qua, bức tranh giáo dục ở Việt Nam trở nên sôi động hơn nhờ sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân. Các trường đại học trở nên năng động hơn, bám sát hơn với nhu cầu của thị trường.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận với nhau rằng Việt Nam vẫn còn thiếu vắng các trường đại học chất lượng cao, được công nhận quốc tế. Bởi sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân có thể giúp cho số lượng các trường đại học gia tăng nhanh chóng, nhưng khi đa số các trường đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu thì rất khó để có thể đầu tư tương xứng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu.

Tôi có cảm giác rằng, khái niệm xã hội hoá giáo dục của chúng ta đang bị hiểu theo một nghĩa khá cực đoan, trở thành thương mại hoá giáo dục. Và nếu giáo dục bị thương mại hoá cao độ, thì những hệ luỵ đi kèm rất đáng quan ngại, đặc biệt là cơ hội tiếp cận công bằng với giáo dục đại học của mọi người sẽ bị thu hẹp đáng kể. Sẽ ra sao nếu các bạn trẻ có năng lực nhưng vì gia đình không thể chi trả học phí mà phải gác lại giấc mơ học vấn? Đây sẽ không còn là vấn đề của một vài cá nhân nữa, mà là vấn đề xã hội lớn, liên quan đến khả năng dịch chuyển xã hội (social mobility) của mỗi quốc gia. Bởi ở hầu hết các nước, trong đó Việt Nam không phải là ngoại lệ, con đường học lên cao vẫn là một phương thức phổ biến để các công dân vươn lên nấc thang cao hơn trong xã hội.Để khắc phục những vấn đề này, tôi cho rằng chúng ta cần đưa xã hội hoá trở lại bản chất đích thực của nó, giống như ở các quốc gia có nền giáo dục đại học tiên tiến.

Chắc chắn là để có các trường đại học phi lợi nhuận thì cần có sự hiến tặng của các cá nhân tổ chức. Văn hoá hiến tặng (philanthropy) là một đặc trưng nổi tiếng của các nước tiên tiến, đặc biệt là Mỹ khi hầu hết các đại học lớn đều ra đời, phát triển nhờ các nguồn hiến tặng, quyên góp của các cá nhân trong xã hội. Nhưng các hoạt động thiện nguyện, trong đó có thiện nguyện giáo dục cũng đang trở nên quen thuộc ngay ở các nước châu Á vốn quen với văn hoá từ thiện (charity).

Báo chí có thể mới chỉ để ý đến câu chuyện các cá nhân giàu có hiến tặng các khoản tiền lớn cho các trường đại học, như các tỷ phú Trung Quốc, hay tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo của Việt Nam gần đây. Nhưng còn có một xu hướng đáng lưu ý là ngày càng có nhiều người dân thuộc tầng lớp trung lưu sẵn sàng đóng góp một phần nhỏ bé cho giáo dục, có thể thông qua các quỹ khuyến học, các học bổng giành cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Đó đều là những hành động đẹp đẽ cần được nhân rộng để thiện nguyện thực sự trở thành một văn hoá ở Việt Nam.

Nhân đây, tôi muốn nói rằng nếu chúng ta có một Việt Nam mạnh hơn, tốt hơn cả là chúng ta hãy góp sức mình xây các trường đại học tốt. Nếu chúng ta từng nghĩ đến việc làm sao để xây dựng một Việt Nam đủ mạnh để đứng vững trước những áp lực từ bên ngoài thì hãy cân nhắc đóng góp cho đất nước bằng nhiều cách, trong đó có việc đóng góp phát triển giáo dục.

Đâu là những khó khăn, thách thức lớn nhất đối với Đại học Fulbright hiện nay? Bà và trường sẽ làm gì để có đủ nguồn tài chính nhằm hiện thực hóa các kế hoạch phát triển của mình trong tương lai?

Thách thức đối với một trường đại học mới có 5 năm tuổi đời đương nhiên là rất nhiều. Nhưng có lẽ thử thách lớn nhất đối với Đại học Fulbright là phải chứng minh được giá trị của mình với Việt Nam, bằng cách đảm bảo rằng chương trình giảng dạy, nghiên cứu và các hoạt động khác của chúng tôi đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội Việt Nam. Nếu Fulbright không thể kết nối với xã hội Việt Nam ở mức độ sâu sắc thì trường sẽ không thể phát triển bền vững được. Đại học Fulbright cần nguồn đầu tư từ những cá nhân giàu có và những người quan tâm đến trường.

Hiện tại, Đại học Fulbright hoạt động dựa trên nguồn tiền tài trợ từ Chính phủ và các tổ chức xã hội Hoa Kỳ, cùng với cơ sở hạ tầng là khu đất 15ha trong Khu Công nghệ Cao Quận 9 mà Chính phủ Việt Nam đóng góp.

Chúng tôi cũng đã nhận được những cam kết đóng góp lớn từ các nhà hảo tâm, những doanh nhân Việt Nam đã đóng góp cho Fulbright như một cách để ủng hộ giáo dục Việt Nam. Nhưng bên cạnh những nhà tài trợ lớn như thế, điều chúng tôi hy vọng hơn cả là văn hoá đóng góp của cả xã hội. Như tôi vừa chia sẻ, những trường đại học phi lợi nhuận của Mỹ nhận từ 10-20 USD đóng góp của những nhà hảo tâm, biến nó thành một nguồn lực lớn để đầu tư cho giáo dục, cho ra đời những thế hệ sinh viên là hạt nhân của tương lai trong xã hội Mỹ. Và những hạt nhân đó khi trưởng thành, lại quay lại đóng góp cho giáo dục theo cách mình có thể. Ở đây, tại Fulbright, chúng tôi cũng mong muốn kiến tạo văn hoá “pay it forward” – “đáp đền tiếp nối” như vậy.

Trường đã nhận được những khoản đóng góp nhỏ như thế hay chưa?

Có chứ, nhiều là đằng khác. Trong những người đóng góp cho Fulbright, có cả những người thu nhập trung bình nhưng họ vẫn cố gắng dành dụm gửi cho trường một khoản đều đặn hàng tháng, có thể là để giúp đỡ một vài em sinh viên có gia cảnh khó khăn, hay ủng hộ một sáng kiến nào đó của Trường. Mỗi một khoản tài trợ dù lớn hay nhỏ, đối với chúng tôi đều vô cùng ý nghĩa.

Việc một doanh nhân Việt Nam tuyên bố sẽ tài trợ khoản tiền lên tới hàng trăm triệu USD cho một trường đại học ở nước ngoài (doanh nhân Nguyễn Thị Phương Thảo tài trợ cho trường Linacre ở Anh) hiện đang gây sự chú ý đặc biệt trong cộng đồng. Theo bà, cần làm gì để tạo cơ chế thu hút các nguồn lực tài trợ tư nhân cho các trường đại học Việt Nam hiện nay?

Dù chưa biết rõ hoàn cảnh cụ thể của câu chuyện, nhưng tôi hi vọng tuyên bố này sẽ khơi nguồn cảm hứng cho nhiều cá nhân giàu có khác ở Việt Nam tài trợ cho các trường đại học.

Nhưng để xây dựng văn hoá thiện nguyện, những lời kêu gọi là không đủ. Văn hoá từ thiện phổ biến ở Mỹ vì Chính phủ Mỹ đã xây dựng được một hệ thống ưu đãi về thuế dành cho các hoạt động thiện nguyện. Trong khi thuế thu nhập đối với người giàu ở đây rất cao thì các khoản đóng góp cho hoạt động thiện nguyện hoàn toàn được miễn thuế. Ở Việt Nam chưa có một hệ thống ưu đãi như vậy để khuyến khích người giàu đóng góp thiện nguyện nhưng tôi nghĩ đã đến lúc Chính phủ cần xem xét và áp dụng mô hình này để huy động các nguồn lực xã hội.

Trong mô hình đó, các quỹ hiến tặng (Endownment Fund) có vai trò quan trọng, được quyền huy động nguồn đóng góp từ mọi thành phần trong xã hội, với các ưu đãi về cơ chế hoạt động. Các Quỹ hiến tặng Đại học ở Hoa Kỳ đã tăng hơn 100 lần so với năm 1980, trong đó quy mô các quỹ hiến tặng của các đại học lớn lên tới hàng chục tỷ USD. Ở Việt Nam, điều này vẫn rất mới nhưng tôi tin đây là một hướng đi sống còn để thu hút các nguồn tài trợ tư nhân cho đại học.

(*) Nguồn: VietnamFinance.vn

Related Articles

Đăng ký thông tin