14 Tháng một, 2019

Cầu năng lượng và nhân tố thay thế trong sản xuất ở Việt Nam

14 Tháng một, 2019

Ngày 11/1/2019, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright đã tổ chức buổi seminar “Cầu năng lượng và nhân tố thay thế trong sản xuất ở Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ hai khảo sát doanh nghiệp gần đây” do TS. Lê Việt Phú trình bày.

Dựa trên kết quả từ những nghiên cứu thực nghiệm, TS. Phú đưa ra một số hàm ý quan trọng về chính sách điện tại Việt Nam.

Ngược với giả định cho rằng điện là hàng hóa có đường cầu không co giãn, giá điện tại Việt Nam có độ co giãn khá cao, ẩn ý đằng sau sự co giãn này là có thể sử dụng cơ chế giá để thực hiện chính sách tiết kiệm năng lượng.

Bài nghiên cứu của TS. Phú cũng đi sâu tìm hiểu tác động của từng loại điện đối với môi trường và hoạt động sản xuất tại Việt Nam. Trong đó, điện than tuy có chi phí sản xuất rẻ (khoảng chừng 3 cent trên 1 kilowat) nhưng nếu tính tổng chi phí (bao gồm cả chi phí ô nhiễm không khí và ô nhiễm môi trường), điện than có chi phí cao nhất (xấp xỉ khoảng 12-18 cent/kilowat).

EVN với tư cách là người đứng ra thu mua điện từ các nhà máy điện và phân phối lại cho toàn quốc sử dụng sẽ chú ý đến vấn đề giá thành cao hay thấp trong quyết định mua loại điện nào.

Vì vậy, dù có chi phí môi trường cao, nhưng nhờ chi phí sản xuất thấp và có khả năng phát điện khi có nhu cầu sử dụng điện than tiếp tục được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam.

Giá điện than rẻ nói riêng và giá điện rẻ nói chung tại Việt Nam cũng tác động đến hoạt động nghiên cứu sáng tạo trong khu vực sản xuất. Hiện tại, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ sử dụng điện để làm nguyên liệu tăng trưởng kinh tế khá cao so với các nước khác.

Doanh nghiệp và nhà máy sản xuất tận dụng giá điện rẻ để giảm chi phí sản xuất thay vì đẩy mạnh hoạt động sáng tạo để cải tiến công nghệ sản xuất.

Related Articles

Đăng ký thông tin