24 Tháng bốn, 2020

Bài học xử lý khủng hoảng nhìn từ Covid-19

24 Tháng bốn, 2020

Đại dịch Covid-19 đã tô đậm các khác biệt trong cách thức phản ứng và xử lý khủng hoảng của các nhà nước do bị chi phối bởi truyền thống văn hóa và quản trị quốc gia. Theo PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa, thảm họa này cũng một lần nữa cho thấy bài học thấm thía về lãnh đạo và quản trị công: Các quốc gia có thể có những con đường phát triển khác nhau nhưng để xử lý khủng hoảng đều đòi hỏi một giới quyền thế có trách nhiệm với cộng đồng, một chính quyền có năng lực hành động và sự hậu thuẫn, tin tưởng của người dân.

Hơn 400 độc giả đã tham gia hội thảo trực tuyến với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, Giám đốc Chương trình Thạc sĩ Chính sách công, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (FSPPM) về chủ đề: Đại dịch Covid-19 nhìn từ góc độ pháp luật và quản trị công. Đây là hội  thảo thứ hai trong chuỗi thảo luận chính sách liên quan đến chủ đề Covid-19 của các giảng viên trường FSPPM diễn ra trong tháng 4 và tháng 5.

Với vai trò của một trường giảng dạy và nghiên cứu chính sách công hàng đầu ở Việt Nam, các giảng viên của trường Chính sách công và Quản lý Fulbright luôn theo dõi chặt chẽ các diễn biến của dịch Covid-19, có các phản biện, phân tích chuyên sâu để kịp thời đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp.

Hai cách phản ứng mang khác biệt Đông – Tây

Nhìn lại cách thức phản ứng của các quốc gia trong đại dịch Covid-19 hơn ba tháng vừa qua, PGS.TS Phạm Duy Nghĩa nhận định các nước đều áp dụng chiến lược “san phẳng đỉnh dịch” giành thời gian huy động tất cả nguồn lực đối phó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy sự khác biệt rõ nét trong cách thức phản ứng và chính sách của các quốc gia.

Cuối tháng 1, khi dịch bệnh bùng phát ở Vũ Hán và một số tỉnh thành của Trung Quốc, buộc nước này phải áp dụng lệnh phong tỏa, các nhà dịch tễ học đã cảnh báo nguy cơ đại dịch lây lan ra toàn cầu. Trong khi các nước châu Á, rút kinh nghiệm từ dịch SARS năm 2003, đã ý thức về nguy cơ dịch bệnh và vào cuộc nhanh chóng thì các nước Mỹ và Tây Âu vẫn còn khá thờ ơ. Phát biểu trên Twitter hồi tháng 2, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng Covid-19 không nguy hiểm bằng cúm mùa, virus đã cướp đi sinh mạng hàng chục ngàn người Mỹ mỗi năm. Thậm chí, ở một số nước Tây Âu như Anh, Hà Lan, giới lãnh đạo còn cổ xúy cho quan điểm “miễn dịch cộng đồng”, chấp nhận để 60% dân số nhiễm bệnh nhằm tạo ra cái gọi là miễn dịch cộng đồng. Chỉ từ giữa tháng 3 khi dịch bệnh diễn biến trầm trọng, với số ca nhiễm và tử vong tăng nhanh thì những nước này mới bắt đầu có phản ứng quyết liệt hơn.

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

Nhưng ngay cả khi Chính phủ các nước xác định rõ nguy cơ và sự cần thiết phải có can thiệp của nhà nước thì theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, mức độ can thiệp và hiệu quả của chính sách can thiệp giữa các nước phương Đông và phương Tây cũng khác nhau. Đa số các nước phương Đông như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam…áp dụng các biện pháp khá quyết liệt, như phong tỏa các vùng có dịch, cấm tụ tập công cộng, đóng cửa trường học, bắt buộc đeo khẩu trang khi ra đường, cách ly tập trung với các ca nghi nhiễm, thậm chí áp dụng các biện pháp gây tranh cãi như “digital tracking app”. Trong khi đó, nhiều nước Tây Âu chỉ khuyến cáo người dân duy trì giãn cách xã hội, không bắt buộc phải đeo khẩu trang nơi công cộng. Thậm chí, một số nước như Anh đến cuối tháng 3 khi số lượng người bị nhiễm virus và tử vong tăng quá nhanh, vượt năng lực xử lý của hệ thống y tế mới miễn cưỡng ra lệnh cấm các sự kiện công cộng.

Cho đến thời điểm này, có thể khẳng định rằng, kết quả chống dịch giai đoạn đầu của các nước phương Đông tương đối tốt với số lượng ca nhiễm và ca tử vong vì Covid-19 ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phương Tây. Trong đó, Việt Nam được quốc tế coi là một câu chuyện thành công đáng khâm phục so với khu vực và cả thế giới khi duy trì được số ca nhiễm dưới 300 người và chưa có ca tử vong, trong bối cảnh nguồn lực hạn chế và hệ thống y tế còn thiếu thốn.

Ở chiều ngược lại, các nước phát triển hơn, giàu có hơn như Mỹ, Tây Âu lại phải hứng chịu “cơn bão tàn khốc” của Covid-19 với số lượng ca lây nhiễm và tử vong gia tăng chóng mặt từng ngày và cho đến giờ chưa có dấu hiệu cho thấy những nước này đã vượt qua đỉnh dịch.

Bài học lớn về xử lý khủng hoảng

Từ thực tế phòng chống dịch thời gian qua, PGS.TS Phạm Duy Nghĩa cho rằng, Covid-19 đặt ra bài học lớn về xây dựng một chính quyền có năng lực và hành động kịp thời.

“Trong thảm họa thì có lẽ vấn đề quan trọng nhất không phải là nhà nước đó dân chủ hay chuyên chế mà là nhà nước đó có nhận biết được thảm họa và có năng lực phản ứng ngay hay không”. Việc nhận diện được nguy cơ thảm họa để can thiệp đúng lúc là tiền đề tiên quyết giúp chính quyền đưa ra những chính sách chống dịch kịp thời, hiệu quả. Ngược lại, chỉ cần bỏ lỡ một vài tuần, thậm chí 1-2 tháng như các nước Tây Âu và Mỹ thì đến khi giới lãnh đạo quyết định hành động quyết đoán, áp dụng các bài học kinh nghiệm tốt của các nước châu Á, tình hình thực tế đã vượt tầm kiểm soát.

Ngay cả khi chính quyền có nhận biết được thảm họa, việc can thiệp hay không, ở mức độ nào lại bị chi phối bởi những tính toán, cân nhắc lợi ích, đặc biệt là bài toán đánh đổi cân não: vì tăng trưởng kinh tế hay bảo vệ sức khỏe người dân. Các nước phương Tây chần chừ trong việc áp dụng các biện pháp chống dịch một phần cũng vì chưa sẵn sàng hi sinh lợi ích kinh tế, và vì thế đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để có thể khống chế dịch bệnh.

Sau khi đã xác định đúng ưu tiên thì bài học tiếp theo là xác định và tập trung những nguồn lực hiện có để xử lý khủng hoảng, ở đây là đầu tư cho hệ thống y tế để chống đỡ với dịch bệnh. TS. Phạm Duy Nghĩa cũng lưu ý, để xử lý khủng hoảng thành công thì vấn đề minh bạch thông tin có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Bài học thành công của Việt Nam và nhiều nước khác cho thấy khi các thông tin bệnh dịch được cung cấp công khai và thường xuyên đã giúp cho các lực lượng tham gia có thể đưa ra quyết định phù hợp dựa trên thông tin, tạo ra sự tin tưởng và đồng thuận trong xã hội.

Đối với những cuộc khủng hoảng như Covid-19, cơ chế trao quyền và đặt niềm tin vào những người có chuyên môn cần được đặt lên hàng đầu, TS. Phạm Duy Nghĩa nhấn mạnh. TS. Phạm Duy Nghĩa lấy ví dụ về những hậu quả thảm khốc xảy ra trong đại dịch khi các nhà lãnh đạo dân túy bỏ qua các tư vấn của giới chuyên gia để ra quyết sách chiều lòng một số nhóm cử tri. Chẳng hạn như Tổng thống Brazil khăng khăng cho rằng Covid-19 chỉ là nỗi sợ hãi bị thổi phồng, đe dọa sa thải Bộ trưởng Y tế và thậm chí gia nhập các cuộc biểu tình phản đối thống đốc các bang áp dụng biện pháp cách ly xã hội. Đến nay Brazil là nước thiệt hại nặng nhất vì dịch Covid-19 tại khu vực Mỹ Latin với hơn 45 ngàn ca nhiễm và gần 3000 người tử vong. Tương tự, Anh, Ý và một số nước khác cũng đang phải trả giá đắt cho những quyết định mang tính dân túy giai đoạn đầu của giới chính trị gia, lấy lòng cử tri mà không dựa trên phân tích có căn cứ của giới chuyên môn.

Nhiều con đường hướng tới một nhà nước có năng lực và chính quyền có trách nhiệm

Từ những quan sát trên, TS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng “một nền kinh tế thị trường phát triển mà thiếu một nhà nước có năng lực, thiếu một chính quyền có trách nhiệm thì trong những tình huống khẩn cấp như Covid-19 có thể nhanh chóng dẫn quốc gia đó lâm vào thảm họa”. Không thể phủ nhận những giá trị ưu việt của kinh tế thị trường như tự do sở hữu, tự do kinh doanh, tự do khế ước. Tuy nhiên, câu chuyện khác biệt Đông – Tây như vừa phân tích ở trên cho thấy mỗi quốc gia, do đặc thù về lịch sử và truyền thống văn hóa đều có những con đường riêng để xây dựng một nhà nước có năng lực, một chính quyền có trách nhiệm.

Ông chỉ ra rằng, đặc trưng văn hóa phương Đông đề cao giá trị cộng đồng, chấp nhận các nhà nước có tính gia trưởng và đặt niềm tin vào các thể chế nhà nước. Nhờ vậy, người dân dễ dàng chấp thuận các chính sách can thiệp phòng chống dịch mà về bản chất là hạn chế sự tự do cá nhân, chấp nhận hi sinh những tự do cá nhân như quyền đi lại, cư trú, hội họp, thậm chí trao dữ liệu cá nhân cho nhà nước quản lý như việc áp dụng các biện pháp “truy vết qua smartphone”…để bảo vệ lợi ích cộng đồng.

Đặc trưng văn hóa và truyền thống quản trị quốc gia này giúp cho chính quyền các nước phương Đông có được sự hậu thuẫn của đa số dân chúng và có không gian rộng rãi để thực thi các chính sách một cách dễ dàng hơn. Một xã hội gắn kết và ủng hộ những quyết sách của Chính phủ cũng chính là tiền đề để Việt Nam có thể chống dịch giai đoạn đầu thành công. Tiến sĩ Nghĩa dẫn chứng kết quả điều tra xã hội học của tổ chức Dalia GmbH cho biết 62% người được hỏi cho rằng các biện pháp can thiệp của Chính phủ Việt Nam là đúng đắn, phù hợp. Đây là tỉ lệ cao nhất trong 46 quốc gia mà tổ chức này tiến hành phỏng vấn.

Covid-19 cũng cho thấy thực tế chính sách được hình thành bởi giới quyền thế (elite), mặc dù chính quyền nào cũng tuyên bố nhà nước là của dân, do dân và vì dân. Bởi vậy, nếu giới quyền thế ích kỉ, chỉ chăm chăm bảo toàn lợi ích của họ thay vì trách nhiệm với cộng đồng thì các chính sách đưa ra có thể gây tai họa.

Một minh chứng rõ ràng là hiện tượng che giấu, bưng bít thông tin về dịch bệnh nhằm bảo vệ lợi ích của giới cai trị xảy ra ở ngay những nước theo mô hình dân chủ. Ở Nhật Bản, báo chí đang chỉ trích chính quyền thiếu minh bạch trong việc công bố dịch và chậm tuyên bố tình trạng khẩn cấp với nghi vấn chính quyền của ông Abe cố tình che giấu thông tin để níu giữ Thế vận hội 2020, sự kiện mà nước này đã đầu tư rất nhiều tiền của.

Trong khi đó, giới báo chí Mỹ chỉ ra rằng cố vấn Peter Navarro đã trình hai bản ghi nhớ chính sách từ rất sớm (29/1/2020 và 23/2/2020), nêu rõ nguy cơ của đại dịch Covid-19 nhưng chính quyền ông Trump gần như phớt lờ bởi lo ngại các biện pháp chống dịch khắc nghiệt có thể khiến kinh tế Mỹ suy thoái, ảnh hưởng đến cơ hội tái đắc cử tổng thống tháng 11 này. Hậu quả là Mỹ đã để lỡ hai tháng chuẩn bị chống dịch và giờ trở thành nước có ca nhiễm và tử vong cao nhất thế giới.

Tự tin với bản sắc pháp luật Việt Nam

Với những thành công ban đầu trong giai đoạn chống dịch vừa qua, TS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng Việt Nam có thể hoàn toàn tự tin với bản sắc pháp luật của mình. Ông đưa ra một quan sát thú vị: Bản sắc pháp luật và quản trị quốc gia ở Việt Nam do nhiều yếu tố tác động, bao gồm các cam kết chính trị, pháp lý của giới quyền thế ở Việt Nam, các cam kết quốc tế, quy tắc ứng xử của kinh tế tư nhân, xã hội dân sự, cộng đồng trong nước cũng như luật mềm của các tập đoàn kinh tế quốc tế.

Bên cạnh đó, giống như nhiều nước châu Á khác, gốc rễ văn hóa, tín ngưỡng và nền móng tư tưởng của người Việt Nam có ảnh hưởng không kém phần quan trọng. Nói cách khác, “nếu như người dân nhiều nước khác coi pháp luật là tối thượng thì ở Việt Nam, pháp luật chỉ là một nguồn phụ trợ trừ phi những ứng xử xã hội khác không đạt được hiệu quả”. Thực tế này cắt nghĩa vì sao Việt Nam có thể chống dịch thành công trong giai đoạn đầu với nguồn lực ít ỏi, nhờ sự hậu thuẫn của các nhóm trong xã hội và những thói quen sẵn có trong cộng đồng giúp cho các chính sách có thể triển khai nhanh và được đại đa số người dân chấp hành.

“Vấn đề đặt ra là khi khủng hoảng qua đi, Việt Nam làm thế nào để tận dụng những nguồn vốn xã hội đa dạng như vậy để tiếp tục đưa ra những chính sách thúc đẩy phát triển được hậu thuẫn bởi người dân?”, TS. Phạm Duy Nghĩa nêu câu hỏi.

Trong vai trò người quan sát các cải cách thể chế ở Việt Nam suốt hơn 30 năm qua, TS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng câu hỏi trên sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh dịch Covid-19 sẽ làm thay đổi căn bản bức tranh toàn cầu hóa và các cam kết quốc tế, vốn lâu nay được xem như nguồn động lực cho các cải cách thể chế và pháp lý ở Việt Nam.

Việt Lâm

Related Articles

Đăng ký thông tin