Tại Fulbright, sinh viên bắt đầu hành trình học tập và trải nghiệm của mình bằng việc xây dựng hệ thống kiến thức phổ quát cũng như các bộ kỹ năng cơ bản, thông qua các môn học Nền tảng bắt buộc. Chương trình đào tạo nền tảng là đặc điểm chung của các trường theo mô hình giáo dục khai phóng Hoa Kỳ, tuy nhiên ở đây, chương trình được thiết kế và tinh chỉnh để đáp ứng tốt nhất với các xu hướng và thách thức giáo dục toàn cầu, đồng thời bắt rễ sâu sắc vào bối cảnh Việt Nam

Phát triển các bộ kỹ năng thực tiễn

So với những thế hệ đi trước, sinh viên ngày nay đặt nặng vấn đề chuẩn bị cho sự nghiệp sau này. Ông Arthur Levine, nguyên hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm, Đại học Columbia cho hay, “Sinh viên đã trở nên thực dụng hơn nhiều. Các em bày tỏ, lý do chính thôi thúc việc học đại học là để có được các kỹ năng giúp tìm kiếm việc làm và có được thu nhập.” Đây là một trong những tâm lý chi phối nền giáo dục thế kỷ 21. Một khảo sát do Hiệp hội các trường Đại học và Cao đẳng Hoa Kỳ (AACU) ủy nhiệm cho thấy, trong nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh và cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, những công việc mang lại thu nhập cao đòi hỏi cả kiến ​​thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định cũng như các kỹ năng liên ngành đa dạng. Trong đó, có nhiều kỹ năng được phát triển vượt trội trong môi trường giáo dục khai phóng.

Các ngành nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn vốn được coi là cốt lõi của giáo dục khai phóng. Tuy nhiên, các trường đại học hiện đại thường hướng tới những chương trình đào tạo toàn diện hơn, với trọng tâm mới xoay quanh các môn học STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Tại Fulbright, chương trình Đào tạo Nền tảng bao gồm năm môn học trải rộng trên nhiều lĩnh vực, giúp sinh viên hình thành một thế giới quan đa chiều và chuẩn bị cho quá trình học tập, làm việc lâu dài. Các môn học Nền tảng tại Fulbright bao gồm: Khám phá Khoa học; Lý luận Định lượng cho Thời đại Số; Tư duy Thiết kế và Hệ thống; Lịch sử Triết học và Thay đổi Xã hội; và Văn hóa và Xã hội Việt Nam Hiện đại.

Với Chương trình Đào tạo Nền tảng, điểm đặc biệt không chỉ nằm ở nội dung giảng dạy. Mục tiêu chính của những môn học này là phát triển các kỹ năng và tư duy học thuật thiết yếu cho sinh viên. Điển hình như môn Lý luận Định lượng cho Thời đại Số cung cấp cho sinh viên các công cụ toán học và tin học cơ bản để giải quyết vấn đề trong cuộc sống, nhưng không nhất thiết nhằm đào tạo các nhà toán học hay nhà khoa học dữ liệu tương lai. Thay vào đó, sinh viên học cách suy nghĩ logic, quan sát các hiện tượng qua lăng kính của những con số, xóa bỏ những thành kiến ​​chủ quan cá nhân và làm việc theo nhóm. Những kỹ năng này cho phép sinh viên đưa ra những đánh giá, nhận định chính xác hơn dựa trên bằng chứng cụ thể và giao tiếp hiệu quả hơn ở nơi làm việc.

Tương tự, môn Khám phá Khoa học dẫn dắt sinh viên vào thế giới của các ngành khoa học tự nhiên. “Đây không phải môn học về vật lý, sinh học, hóa học hay bất cứ lĩnh vực nào cụ thể, nó tập trung vào khía cạnh kỹ năng nhiều hơn khía cạnh nội dung. Chúng tôi muốn sinh viên đặt mình vào vị trí của một nhà khoa học, suy nghĩ như một nhà khoa học, hiểu ý nghĩa của dữ liệu khoa học và biết được kiến ​​thức khoa học được tạo ra như thế nào,” Tiến sĩ Samhitha Raj, một trong bốn giảng viên phụ trách bộ môn cho biết. Thông qua các dự án nhóm, sinh viên được thực hành thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu, cũng như đánh giá một cách phản biện các tuyên bố khoa học.

Những công dân tích cực, hiểu biết và giàu trách nhiệm

Bên cạnh những kỹ năng có tính thực tiễn cao, sinh viên còn được trang bị kiến thức để trở thành những con người nhân văn, hiểu biết về thế giới và có khả năng thấu cảm với những người xung quanh. Trong một lớp học với những người bạn khác biệt cả về gia cảnh, sở trường và mối quan tâm, sinh viên học cách thảo luận những ý kiến ​​đa chiều trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau.

Với môn Lịch sử Triết học và Thay đổi Xã hội, sinh viên được học về những thời khắc then chốt trong lịch sử tư tưởng nhân loại và tiếp xúc với kho tàng các văn bản văn học, triết học, tôn giáo và nghệ thuật cổ điển, từ sự phát triển của các tư tưởng nổi bật xuyên suốt chiều dài lịch sử cho đến cách những ý tưởng đó gây ra biến đổi xã hội và định hình nhận thức trong thế giới đương đại. Ngoài ra, môn học còn tạo cơ hội cho sinh viên phê bình quan điểm của nhau trong các cuộc thảo luận nhóm, từ đó giúp các bạn hình thành những góc nhìn cân bằng và bao dung hơn.

Trong khi đó, môn Tư duy Thiết kế và Hệ thống giúp sinh viên xác định và giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội. Qua môn học này, các bạn được làm quen với một loạt các công cụ, nguyên tắc và quy trình kỹ thuật, chẳng hạn như cách xác định và giải thích sự cạnh tranh trên thị trường cùng các cơ hội liên quan; các bước thiết kế và chế tạo sản phẩm phục vụ một mục đích nhất định cho xã hội; hay làm thế nào để đưa ra những lựa chọn và giải pháp tối ưu, dựa trên những đánh giá về kỹ thuật.

Một vấn đề mà những sinh viên theo học các chương trình quốc tế thường gặp phải là cảm giác lạc lõng trên chính đất nước của mình và khó khăn trong việc áp dụng những gì đã học vào bối cảnh Việt Nam. Môn học Văn hóa và Xã hội Việt Nam Hiện đại chính là lời giải cho vấn đề này. Bằng việc đi sâu phân tích các vấn đề mà Việt Nam đang phải đối mặt, từ các khía cạnh lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế và cả chính trị, khóa học này giúp người học hiểu rõ về bản sắc Việt Nam và từ đó nhìn nhận đúng đắn về vị thế Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Dựa trên tư duy cởi mở và phản biện, đây là động lực để các bạn có những đóng góp ý nghĩa cho cộng đồng, theo những cách riêng của mình.

Khởi đầu cho hành trình học tập trọn đời

Vào năm 2014, tổ chức Gallup đã tiến hành khảo sát về mối tương quan giữa trải nghiệm đại học và mức độ thành công trong nghề nghiệp – cuộc sống của sinh viên sau khi ra trường. Kết quả cho thấy những con số không mấy tích cực. Chỉ có 39% sinh viên sau khi tốt nghiệp tham gia tích cực trong công việc, và chỉ 11% có được cuộc sống trọn vẹn cả về thể chất, giao tiếp xã hội, tài chính, quan hệ với cộng đồng và mục đích sống. Khảo sát này cũng cho thấy sinh viên có nhiều khả năng đạt được sự viên mãn hơn nếu trường đại học giúp họ chuẩn bị vững vàng cho cuộc sống sau khi tốt nghiệp.

Đó cũng là mục tiêu mà Fulbright nỗ lực hướng tới. Sau khi rời mái trường Fulbright, các bài học và kỹ năng từ Chương trình Đào tạo Nền tảng chắc chắn vẫn sẽ mang lại những giá trị to lớn trong suốt cuộc đời của mỗi sinh viên. Trước một tương lai đầy rẫy những thay đổi khó lường, người ta chỉ có thể thành công nếu họ hiểu về lịch sử và những gì đã hình thành nên thế giới ngày nay. Và khi thế giới càng phát triển, những kiến ​​thức mới sẽ xuất hiện, sinh viên tốt nghiệp sẽ tụt lại phía sau nếu không có tư duy logic và phản biện, khả năng giải quyết vấn đề hiệu quả, kỹ năng giao tiếp và một trí óc tò mò không ngừng học hỏi.

Mặc dù sinh viên dành hai năm học đầu tiên để trải nghiệm nhiều lĩnh vực khác nhau trước khi lựa chọn chuyên ngành nhưng rất có thể sau này, các bạn sẽ muốn hoặc cần phải thay đổi nghề nghiệp. Trên thực tế, một nghiên cứu từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York cho thấy chỉ có 27% sinh viên tốt nghiệp đại học làm việc trong lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành của họ. Với dữ liệu từ 125 triệu hồ sơ nghề nghiệp, Emsi, một công ty phân tích thị trường lao động cũng đưa ra kết luận rằng “con đường điển hình giống một vòng xoáy hơn là một đường thẳng”.

Trong trường hợp sinh viên quyết định thay đổi nghề nghiệp, những kiến ​​thức nền tảng sẽ vô cùng hữu ích trong quá trình chuyển đổi, giúp các bạn thích nghi nhanh hơn với môi trường mới. Từ một nền móng vững chắc, sinh viên sẽ dễ dàng bồi đắp thêm các kỹ năng và kiến ​​thức mới, không ngừng học hỏi và cải thiện bản thân. Nhưng quan trọng hơn cả, các bạn sẽ đối mặt thử thách với một thái độ tự tin và can đảm. Tiến sĩ Trần Vĩnh Linh, một trong ba giảng viên môn Lý luận Định lượng khẳng định, “Các em sẽ dũng cảm, sẵn sàng thử sức với những điều mới mẻ.”

Anh Thư

Vào thứ Sáu, ngày 14 tháng 1, hơn 50 học giả Fulbright và Humphrey đã hội tụ tại Dinh thự của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ để cùng chia sẻ và tìm hiểu những cách các cựu học viên có thể đáp đền tiếp nối và đóng góp cho giáo dục với sứ mệnh lâu dài. Sự kiện do Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Fulbright Việt Nam phối hợp tổ chức.

Quyền Tổng Lãnh sự Robert Greenan phát biểu khai mạc sự kiện

Quyền Tổng Lãnh sự Robert Greenan và Bà Đàm Bích Thủy, Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam đã nồng nhiệt chào đón sự góp mặt của các cựu học viên. Trong bài phát biểu của mình, bà Đàm Bích Thủy cũng kêu gọi các cựu học viên hãy hành động để xây dựng một nền giáo dục chất lượng cao mà vẫn đảm bảo được sự bình đẳng trong quyền tiếp cận. Chỉ khi đó, những sinh viên Việt Nam mới có thể tự tạo ra những thay đổi tích cực trong cuộc sống của bản thân cũng như cộng đồng xung quanh, tương tự như khi các cựu học viên Fulbright và Humphrey được nhận học bổng du học Mỹ.
Tại tiệc chiêu đãi của sự kiện, các cựu học viên vui vẻ trò chuyện với những người bạn cũ, giao lưu với bạn bè mới từ nhiều ngành nghề đa dạng và thảo luận về các cách khác nhau để tạo ra nhiều tác động tích cực hơn trong giáo dục.

Bà Đàm Bích Thủy cũng kêu gọi các cựu học viên Fulbright và Humphrey hãy hành động để xây dựng một nền giáo dục với sứ mệnh lâu dài

“Buổi họp mặt này là một dịp đặc biệt để giao lưu với các học giả Fulbright và Humphrey. Chúng tôi cùng chia sẻ tầm nhìn từ cương vị của trường đại học đầu tiên tại Việt Nam theo mô hình giáo dục khai phóng của Mỹ. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chia sẻ tầm nhìn cho những bước phát triển tiếp theo. Giáo dục là một khoản đầu tư dài hạn, chỉ với sự đồng hành góp sức từ những người bạn có chung chí hướng, chúng tôi mới có thể thực hiện sứ mệnh: Kiến tạo thế hệ người Việt mới – những con người có khả năng tạo thay đổi trước một thế giới đầy biến động” – bà Đàm Bích Thủy nhấn mạnh.

Sự kiện do Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Fulbright Việt Nam phối hợp tổ chức.

Sự kiện quy tụ hơn 50 học giả Fulbright và Humphrey tại Dinh thự của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ

Quyền Tổng Lãnh sự Robert Greenan chào đón khách mời

Các học giả giao lưu và trò chuyện

Sinh viên Fulbright student Võ Huỳnh Thảo Nguyên với tiết mục Tạm Biệt Mùa Thu

Sinh viên Fulbright Nguyễn Võ Phương Vy trình diễn ca khúc Xin chào Việt Nam

Học giả Fulbright Bui Van chia sẻ cảm nghĩ về sứ mệnh giáo dục tại Fulbright

 

Từng là một nhà lãnh đạo ngân hàng, chuyên gia tài chính hàng đầu nhưng bà Đàm Bích Thủy đã quyết định “rẽ ngang”, dồn tâm ý cho giáo dục khi trở thành Chủ tịch Đại học Fulbright. Câu chuyện của bà đã truyền cảm hứng rất lớn cho cộng đồng trong thời gian qua. Nhân ngày 20/11, bà Đàm Bích Thủy đã trải lòng cùng Đầu tư Tài chính – VietnamFinance về lựa chọn của mình. (*)

Bà có thấy hạnh phúc với quãng thời gian làm việc tại Đại học Fulbright? Những kết quả công việc nào khiến bà cảm thấy ấm lòng nhất?

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghề giáo. Ba mẹ và em trai tôi đều giảng dạy đại học và làm nghiên cứu khoa học. Tôi học đại học chuyên ngành sư phạm, với định hướng sau này trở thành giáo viên. Nhưng dù không theo nghề giáo, tôi nghĩ rằng có lẽ tình yêu và mối quan tâm đối với giáo dục vẫn ở đâu đó trong tôi nên quyết định tham gia nhóm sáng lập Đại học Fulbright Việt Nam và trở thành chủ tịch đầu tiên của trường đến với tôi rất tự nhiên.

Công việc xây dựng một trường đại học từ ban đầu, lại theo đuổi một mô hình chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam, dĩ nhiên luôn có rất nhiều thách thức. Nhưng những niềm vui và khoảnh khắc bạn được tưởng thưởng thì không thể đong đếm được. Đó là những ngày đầu tiên khi trường mới thành lập, toàn bộ nhóm dự án làm việc trong một văn phòng chật hẹp ở Bitexco, miệt mài chuẩn bị cho kỳ tuyển sinh năm học đầu tiên. Không còn phân biệt ai làm học thuật, ai làm truyền thông, ai làm tài chính, tất cả mọi người đều chung tay cho một sứ mệnh: thuyết phục các bạn trẻ và ba mẹ tin tưởng, mạnh dạn dấn thân cùng chúng tôi trong hành trình đồng kiến tạo trường đại học giáo dục khai phóng đầu tiên của Việt Nam.

Tôi vẫn nhớ như in những buổi đầu tiên khi chúng tôi mời một nhóm học sinh và phụ huynh đến nói chuyện về mô hình giáo dục tại Fulbright. Có rất nhiều câu hỏi chất vấn và cả nghi ngờ về tính thực tiễn của giáo dục khai phóng bởi nó đi ngược với quan niệm phổ biến của các gia đình Việt Nam rằng “học đại học là để học lấy một nghề nào đó”. Nhiều người không thể hiểu vì sao các bạn sinh viên lại cần phải dành ít nhất năm đầu tiên ở Fulbright để tìm hiểu về nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau, từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nhân văn, nghệ thuật trước khi quyết định chọn một chuyên ngành cụ thể. Hay khi chúng tôi chia sẻ về mô hình hỗ trợ tài chính theo hoàn cảnh gia đình, không ít cha mẹ bày tỏ nghi ngại rằng những quyết định hỗ trợ tài chính của Trường có thể không công bằng khi có những người sẽ tìm cách trục lợi bằng việc cung cấp thông tin sai lệch.

Vì thế, bạn có thể hình dung ra chúng tôi cảm thấy ấm lòng đến thế nào khi triết lý giáo dục khai phóng giờ đây ngày càng được các bạn trẻ và gia đình, cũng như xã hội Việt Nam đón nhận như một trong những lựa chọn giáo dục mới. Hay khi tôi nhận được lá thư của một người mẹ có con nhận được hỗ trợ tài chính toàn phần tại Fulbright chia sẻ rằng quyết định của Trường đã giúp cho con chị có thể tiếp tục theo đuổi giấc mơ tưởng chừng phải gác lại vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn. Chị ấy viết rằng, chị sẽ thông báo ngay cho nhà trường khi gia cảnh tốt lên để trường có thể san sẻ cơ hội đó cho những bạn trẻ khác.

Theo bà, giáo dục đại học có vai trò như thế nào trong việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong giai đoạn phát triển sắp tới?

Trong lí thuyết “nguồn vốn con người” (human capital) nổi tiếng, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Gary Becker đã chỉ ra nguồn vốn con người thường chiếm từ 70-75% khả năng thịnh vượng của một quốc gia. Becker đã chỉ ra các nước châu Á từ Hàn Quốc đến Trung Quốc như là những ví dụ về những nền kinh tế đã sử dụng giáo dục để thúc đẩy tăng trưởng. Mặc dù có rất ít tài nguyên thiên nhiên, nhưng họ đầu tư mạnh cho hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học nhằm phát triển nguồn nhân lực của mình và gặt hái những phần thưởng xứng đáng.

Việt Nam cũng không là ngoại lệ nếu muốn học hỏi bài học thành công của họ. Vấn đề càng trở nên cấp bách hơn khi chúng ta đang sống trong thời đại mà những thay đổi diễn ra một cách chóng mặt và khó đoán định do tốc độ phát triển của khoa học công nghệ. Tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, trong khi mang lại những giá trị lớn lao cho xã hội thì đồng thời cũng dẫn tới nhiều xáo trộn chưa từng có về mặt kinh tế khi nhiều ngành nghề – từ các công việc lắp ráp theo dây chuyền đến bán lẻ và luật – có nguy cơ biến mất nhanh chóng.

Những xu hướng kể trên sẽ có tác động nghiêm trọng tới Việt Nam vì nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào sản xuất công nghiệp nhẹ và nông nghiệp. Trong khi đó, các hoạt động sản xuất thâm dụng lao động này sẽ ngày càng bị thu hẹp do tự động hóa và các tiến bộ công nghệ và nông nghiệp thì bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu. Để tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu kinh tế – xã hội tốt hơn, Việt Nam buộc phải chuyển đổi thành công sang các hoạt động kinh tế thâm dụng tri thức và giá trị gia tăng cao. Bởi vậy, lực lượng lao động có kỹ năng và chất lượng cao sẽ là điều kiện tiên quyết.

Đứng trước những thách thức như bà vừa đề cập, giáo dục đại học của Việt Nam cần có những thay đổi cơ bản nào trong thời gian tới để có thể tiệm cận dần với những nền giáo dục tiến bộ khác trên thế giới, thưa bà?

Mặc dù giáo dục đại học Việt Nam đang có những bước chuyển mình trong thời gian vừa qua nhưng chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế rằng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao và thực trạng giáo dục của Việt Nam. Mặc dù sinh viên Việt Nam đạt điểm số cao trong các kì thi chuẩn hoá, các nhà tuyển dụng lao động thường xuyên than phiền rằng sinh viên thiếu các kỹ năng cần thiết để làm việc hiệu quả. Thực trạng này được phản ánh rõ nét qua tỷ lệ thất nghiệp còn cao của những người tốt nghiệp đại học.

Trong khi đó, các bạn trẻ ngày nay phải đương đầu với một tương lai ngày càng khó đoán định mà chúng ta hay gọi là thế giới VUCA, được định hình bởi sự Biến động (Volatility), Bất định (Uncertainty), Phức tạp (Complexity) và Mơ hồ (Ambiguity). Hãy thử hình dung, nếu theo những dự báo khoa học hiện nay, khoảng 80% công việc của năm 2030, tức là 10 năm nữa, còn chưa xuất hiện. Rõ ràng, cách các trường đại học được thiết kế theo kiểu chỉ đào tạo những chuyên ngành hẹp như lâu nay đã trở nên lạc hậu với thời cuộc.

Tôi nghĩ suy cho cùng chúng ta cần quay trở về với sứ mệnh chân chính của giáo dục đại học, đó là “giúp người học thích ứng và quản lý tốt những thay đổi trong môi trường xã hội”. Từ những trải nghiệm của chính chúng tôi ở Đại học Fulbright 5 năm qua, tôi tin rằng giáo dục đại học của thế kỷ 21 phải làm thế nào để dạy cho sinh viên “học cách để học”, để họ có thể liên tục tái tạo và học hỏi những kỹ năng mới. Một phông nền kiến thức rộng, mang tính liên ngành và đa ngành, chú trọng những kỹ năng sống còn như tư duy phản biện, tư duy giải quyết vấn đề và sáng tạo có lẽ nên là những cấu phần không thể thiếu trong bất kỳ một mô hình giáo dục đại học nào.

Mới đây thôi, tôi nhận được chia sẻ từ một giám đốc nhân sự một công ty công nghệ cho biết rằng CEO của cô ấy đánh giá rất cao các sinh viên Fulbright đang thực tập tại đây vì kĩ năng thuyết trình, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và làm việc nhóm tốt hơn rất nhiều nhân viên hiện tại. Không biết bạn ấy có phóng đại lên không nhưng đó quả là một sự khích lệ đối với những người làm giáo dục ở Fulbright để chúng tôi kiên định con đường hiện tại.

Một thập kỷ qua chứng kiến dòng vốn đầu tư khá lớn từ các nhà đầu tư tư nhân cho giáo dục. Bà đánh giá thế nào về xu hướng xã hội hóa trong ngành giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng trong giai đoạn hiện nay? 

Một điều không thể phủ nhận là trong vòng mười năm qua, bức tranh giáo dục ở Việt Nam trở nên sôi động hơn nhờ sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân. Các trường đại học trở nên năng động hơn, bám sát hơn với nhu cầu của thị trường.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận với nhau rằng Việt Nam vẫn còn thiếu vắng các trường đại học chất lượng cao, được công nhận quốc tế. Bởi sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân có thể giúp cho số lượng các trường đại học gia tăng nhanh chóng, nhưng khi đa số các trường đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu thì rất khó để có thể đầu tư tương xứng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu.

Tôi có cảm giác rằng, khái niệm xã hội hoá giáo dục của chúng ta đang bị hiểu theo một nghĩa khá cực đoan, trở thành thương mại hoá giáo dục. Và nếu giáo dục bị thương mại hoá cao độ, thì những hệ luỵ đi kèm rất đáng quan ngại, đặc biệt là cơ hội tiếp cận công bằng với giáo dục đại học của mọi người sẽ bị thu hẹp đáng kể. Sẽ ra sao nếu các bạn trẻ có năng lực nhưng vì gia đình không thể chi trả học phí mà phải gác lại giấc mơ học vấn? Đây sẽ không còn là vấn đề của một vài cá nhân nữa, mà là vấn đề xã hội lớn, liên quan đến khả năng dịch chuyển xã hội (social mobility) của mỗi quốc gia. Bởi ở hầu hết các nước, trong đó Việt Nam không phải là ngoại lệ, con đường học lên cao vẫn là một phương thức phổ biến để các công dân vươn lên nấc thang cao hơn trong xã hội.Để khắc phục những vấn đề này, tôi cho rằng chúng ta cần đưa xã hội hoá trở lại bản chất đích thực của nó, giống như ở các quốc gia có nền giáo dục đại học tiên tiến.

Chắc chắn là để có các trường đại học phi lợi nhuận thì cần có sự hiến tặng của các cá nhân tổ chức. Văn hoá hiến tặng (philanthropy) là một đặc trưng nổi tiếng của các nước tiên tiến, đặc biệt là Mỹ khi hầu hết các đại học lớn đều ra đời, phát triển nhờ các nguồn hiến tặng, quyên góp của các cá nhân trong xã hội. Nhưng các hoạt động thiện nguyện, trong đó có thiện nguyện giáo dục cũng đang trở nên quen thuộc ngay ở các nước châu Á vốn quen với văn hoá từ thiện (charity).

Báo chí có thể mới chỉ để ý đến câu chuyện các cá nhân giàu có hiến tặng các khoản tiền lớn cho các trường đại học, như các tỷ phú Trung Quốc, hay tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo của Việt Nam gần đây. Nhưng còn có một xu hướng đáng lưu ý là ngày càng có nhiều người dân thuộc tầng lớp trung lưu sẵn sàng đóng góp một phần nhỏ bé cho giáo dục, có thể thông qua các quỹ khuyến học, các học bổng giành cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Đó đều là những hành động đẹp đẽ cần được nhân rộng để thiện nguyện thực sự trở thành một văn hoá ở Việt Nam.

Nhân đây, tôi muốn nói rằng nếu chúng ta có một Việt Nam mạnh hơn, tốt hơn cả là chúng ta hãy góp sức mình xây các trường đại học tốt. Nếu chúng ta từng nghĩ đến việc làm sao để xây dựng một Việt Nam đủ mạnh để đứng vững trước những áp lực từ bên ngoài thì hãy cân nhắc đóng góp cho đất nước bằng nhiều cách, trong đó có việc đóng góp phát triển giáo dục.

Đâu là những khó khăn, thách thức lớn nhất đối với Đại học Fulbright hiện nay? Bà và trường sẽ làm gì để có đủ nguồn tài chính nhằm hiện thực hóa các kế hoạch phát triển của mình trong tương lai?

Thách thức đối với một trường đại học mới có 5 năm tuổi đời đương nhiên là rất nhiều. Nhưng có lẽ thử thách lớn nhất đối với Đại học Fulbright là phải chứng minh được giá trị của mình với Việt Nam, bằng cách đảm bảo rằng chương trình giảng dạy, nghiên cứu và các hoạt động khác của chúng tôi đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội Việt Nam. Nếu Fulbright không thể kết nối với xã hội Việt Nam ở mức độ sâu sắc thì trường sẽ không thể phát triển bền vững được. Đại học Fulbright cần nguồn đầu tư từ những cá nhân giàu có và những người quan tâm đến trường.

Hiện tại, Đại học Fulbright hoạt động dựa trên nguồn tiền tài trợ từ Chính phủ và các tổ chức xã hội Hoa Kỳ, cùng với cơ sở hạ tầng là khu đất 15ha trong Khu Công nghệ Cao Quận 9 mà Chính phủ Việt Nam đóng góp.

Chúng tôi cũng đã nhận được những cam kết đóng góp lớn từ các nhà hảo tâm, những doanh nhân Việt Nam đã đóng góp cho Fulbright như một cách để ủng hộ giáo dục Việt Nam. Nhưng bên cạnh những nhà tài trợ lớn như thế, điều chúng tôi hy vọng hơn cả là văn hoá đóng góp của cả xã hội. Như tôi vừa chia sẻ, những trường đại học phi lợi nhuận của Mỹ nhận từ 10-20 USD đóng góp của những nhà hảo tâm, biến nó thành một nguồn lực lớn để đầu tư cho giáo dục, cho ra đời những thế hệ sinh viên là hạt nhân của tương lai trong xã hội Mỹ. Và những hạt nhân đó khi trưởng thành, lại quay lại đóng góp cho giáo dục theo cách mình có thể. Ở đây, tại Fulbright, chúng tôi cũng mong muốn kiến tạo văn hoá “pay it forward” – “đáp đền tiếp nối” như vậy.

Trường đã nhận được những khoản đóng góp nhỏ như thế hay chưa?

Có chứ, nhiều là đằng khác. Trong những người đóng góp cho Fulbright, có cả những người thu nhập trung bình nhưng họ vẫn cố gắng dành dụm gửi cho trường một khoản đều đặn hàng tháng, có thể là để giúp đỡ một vài em sinh viên có gia cảnh khó khăn, hay ủng hộ một sáng kiến nào đó của Trường. Mỗi một khoản tài trợ dù lớn hay nhỏ, đối với chúng tôi đều vô cùng ý nghĩa.

Việc một doanh nhân Việt Nam tuyên bố sẽ tài trợ khoản tiền lên tới hàng trăm triệu USD cho một trường đại học ở nước ngoài (doanh nhân Nguyễn Thị Phương Thảo tài trợ cho trường Linacre ở Anh) hiện đang gây sự chú ý đặc biệt trong cộng đồng. Theo bà, cần làm gì để tạo cơ chế thu hút các nguồn lực tài trợ tư nhân cho các trường đại học Việt Nam hiện nay?

Dù chưa biết rõ hoàn cảnh cụ thể của câu chuyện, nhưng tôi hi vọng tuyên bố này sẽ khơi nguồn cảm hứng cho nhiều cá nhân giàu có khác ở Việt Nam tài trợ cho các trường đại học.

Nhưng để xây dựng văn hoá thiện nguyện, những lời kêu gọi là không đủ. Văn hoá từ thiện phổ biến ở Mỹ vì Chính phủ Mỹ đã xây dựng được một hệ thống ưu đãi về thuế dành cho các hoạt động thiện nguyện. Trong khi thuế thu nhập đối với người giàu ở đây rất cao thì các khoản đóng góp cho hoạt động thiện nguyện hoàn toàn được miễn thuế. Ở Việt Nam chưa có một hệ thống ưu đãi như vậy để khuyến khích người giàu đóng góp thiện nguyện nhưng tôi nghĩ đã đến lúc Chính phủ cần xem xét và áp dụng mô hình này để huy động các nguồn lực xã hội.

Trong mô hình đó, các quỹ hiến tặng (Endownment Fund) có vai trò quan trọng, được quyền huy động nguồn đóng góp từ mọi thành phần trong xã hội, với các ưu đãi về cơ chế hoạt động. Các Quỹ hiến tặng Đại học ở Hoa Kỳ đã tăng hơn 100 lần so với năm 1980, trong đó quy mô các quỹ hiến tặng của các đại học lớn lên tới hàng chục tỷ USD. Ở Việt Nam, điều này vẫn rất mới nhưng tôi tin đây là một hướng đi sống còn để thu hút các nguồn tài trợ tư nhân cho đại học.

(*) Nguồn: VietnamFinance.vn

While microscopes are her favorite, pen and paper characterize another aspect of Raj.

The road to the lab

In a house tucked among Mysore’s iconic palaces and temples, a young girl was bending over, trying to breathe life into her portrayal of a lotus – her hometown’s traditional flower. This scene, far from being an anomaly, soon became a signature of the house, leading the girl’s parents to be confident that their daughter would pursue art.

The girl, now in her twenties, finds herself indissolubly linked to biology, a discipline whose embodiment of artistic creativity often proves elusive to many.

Born to a pair of doctors in Mysore, a royal city steeped in Indian tradition, Professor Samhitha Raj enjoyed a happy childhood alongside supportive parents. That probably explains her undaunted advancement towards the male-dominated field of science in a country where academia is still ridden with discrimination on the grounds of caste and gender.

“My parents didn’t discourage me from going into science,” Raj said, her eyes sparkling with pride and gratefulness.

Raj’s enthusiasm for science, particularly mathematics and biology, was spotted early and nurtured all the way through university as she opted for a degree in Bioengineering. Yet, it was not long before she realized she had a propensity for scientific thinking, at which point she decided to follow the calling of biology in the next phase of her life.

“I got my undergraduate degree in Bioengineering because I like biology and I love math, so I wanted to combine the two. But then I realized I didn’t think as an engineer. I thought more as a scientist,” Raj said.

This momentary insight led to a career of longevity. From that moment onward, Raj dedicated herself to understanding the core of biology, which, for Raj, began at themolecular level.

Professor Samhitha Raj

During her six years at the University of Michigan, where she worked as a graduate student, Raj conducted research into the role of thyroid hormones in modulating DNA methylation in the development of the vertebrate brain, a topic that has enthralled her ever since.

Albeit guided by her burning passion, Raj’s career path was no bed of roses. Raj recollected falling victim to sexual harassment during her stint at an Indian research institute, which hindered her from focusing wholeheartedly on her project.

“I felt no gender-based disparagement in terms of opportunity,” Raj asserted. “But the inappropriate behavior of some male colleagues at that institute reflected badly on my experience as a female scientist.”

Beyond the lab

A scientist by profession and an artist by instinct, Raj was also a journalist, though for only a while. Upon graduating from JSS Science and Technology University, she made her foray into journalism by attending a few courses that spanned a total of one year. Reminiscing about this unique endeavor, Raj concurred that adding the journalism chapter to her all-science storybook was a wise move.

“My whole pursuit had been science, so I wanted to try and see what journalism was like. As part of the practice, I had to redefine what I had done previously to make science a topic understandable to everybody,” she recalled. An ability to communicate sophisticated scientific findings to the layperson was what Raj acquired from those journalism courses, extricating her out of the ivory tower that isolates researchers from the outside world.

Take a look back at Raj’s history, and none should be surprised that when she talks about writing, she doesn’t solely mean writing on paper. Since university, Raj has tried writing into space, and now considers bringing it into her classroom.

“During my years at college, I choreographed classical Indian pieces,” revealed Raj. “I’ve talked with Jill about the possibility of a class that combines yoga and Indian dancing. We will see.”

In the wake of her cross-field experiences, transdisciplinarity appears to have permeated Raj’s life and mediated her choice-making mindset. Last September, from the other half of the globe, Raj traversed oceans and fields for a job interview in Vietnam.

The interview turned her life, as a scientist, upside down. She was co-opted onto the team of Founding Faculty Members at Fulbright University Vietnam, the country’s first non-profit liberal arts institution.

While the term ‘liberal arts’ brings music to the ears of creative artists and social scientists, it, in the conservative’s eyes, is a curse on the career prospects of natural scientists. Hanging in the air is the question of how a natural scientist may make a mark in a university where the laboratory goes by conspicuous absence, and education is interpreted as an integrative project rather than the in-depth exploration of any predetermined discipline.

This problem, however, doesn’t seem to demoralize Raj. The lotus in the lab remains optimistic about what the future holds in store for her, possibly because she sees transdisciplinarity as a vehicle for scientific fluidity.

“The university will support me in whatever ways it can. And personally, I have to make a choice. I made the choice that to me, teaching science is a little bit more important than doing research work,” Raj smiled. “I love collaborating with other faculty members here to get different perspectives, and the transdisciplinary learning is really what I’m looking forward to.”

In Module 5 of the Co-Design Year, Raj instructs the Grand Challengescourse with KinHo Chan, a Fulbright neuroscientist. Set against the backdrop of a tumultuous century, the course strives to harness a common ground between disciplines in identifying, analyzing and tackling pressing issues ranging from climate change to genetic engineering. So, instead of experimenting with microscopes, Raj is having fun experimenting with the big wide world. 

Dang Thi Hoai Linh

(Student of Co-Design year)

  • Photographer : Nguyen Nhu Phuong Anh

Đại học Fulbright Việt Nam chính thức tổ chức Hội thảo Học thuật Thường niên đầu tiên với chuyên đề Hướng tiếp cận mới đối với giáo dục đại học ở Châu Á. Thế kỷ 21 đã chứng kiến những bước chuyển mình quan trọng như toàn cầu hóa giáo dục, và sự phát triển của những phương pháp giáo dục và nhận thức luận dựa trên những nghiên cứu xuyên quốc gia và bối cảnh địa phương.

Câu hỏi được đặt ra là liệu giáo dục đại học ở Châu Á sẽ thay đổi theo chiều hướng nào. Các yếu tố về chính sách, giáo dục khai phóng, mỹ thuật, giáo dục STEM, và những yếu tố liên quan khác sẽ có vai trò gì trong công cuộc thay đổi nhận thức cá nhân, quốc gia, cũng như của khu vực.

Chúng tôi kính mời các nhà giáo dục, học giả, nhà nghiên cứu, sinh viên cao học, các chuyên gia đầu ngành, cũng như những cá nhân khác cùng Đại học Fulbright Việt Nam trao đổi thêm về chủ đề này bằng cách gửi bài tóm tắt nội dung nghiên cứu về cho chúng tôi.

Hội đồng khoa học sẽ chọn lựa nội dung phù hợpvà sẽ mời diễn giả tham gia trình bày và thảo luận tại Hội thảo học thuật vào ngày 20-21 tháng Tư năm 2019 tại Đại học Fulbright Việt Nam.

Đề tài nghiên cứu có thể bao gồm:

  • Những vấn đề lớn khi triển khai giáo dục khai phóng ở Châu Á
  • Khoa học kỹ thuật trong giáo dục khai phóng
  • Chính sách và thực tiễn trong giáo dục đại học
  • Nghiên cứu khoa học nhận thức trong giáo dục đại học
  • Phương pháp giảng dạy Văn học đương đại, Mỹ thuật, và Điện ảnh ở Châu Á
  • Yếu tố truyền thống và hiện đại trong giáo dục đại học
  • Hướng đánh giá các phương pháp mới
  • Liên ngành và đa ngành
  • Phương pháp tích hợp Mỹ thuật và Kỹ thuật
  • Phòng học cũng là phòng thí nghiệm
  • Không gian đại học
  • Sức khỏe tâm thần trong giáo dục đại học
  • Phương pháp truyền đạt ý thức bảo tồn sinh thái

Với hỗ trợ tài chính từ Công ty TNHH Nước Giải khát Coca-Cola Việt Nam và Đại học Fulbright Việt Nam, hội thảo sẽ hỗ trợ một phần chi phí đi lại và ăn ở cho diễngiả có chủ đề nghiên cứu được chấp thuận trình bày và thảo luận tại buổi Hội thảo học thuật. Ngoài ra, Đại học Fulbright Việt Nam cũng sẽ hỗ trợ tác giả  xuất bản bài nghiên cứu trên những tạp chí nghiên cứu uy tín trong khu vực sau hội thảo.

Hạn chót nhận tóm tắt đề tài nghiên cứu vào ngày 28 tháng Hai năm 2019. Đề tài nghiên cứu sẽ được đánh giá theo hình thức cuốn chiếu.

Để biết thêm thông tin và nộp tóm tắt đề tài nghiên cứu, xin vui lòng truy cập website:https://conference.fulbright.edu.vn

Về Đại học Fulbright Việt Nam:

Đại học Fulbright Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng giáo dục khai phóng của Hoa Kỳ nhằm đem đến những phương pháp giảng dạy đầy sáng tạo và chủ động, và những chương trình nghiên cứu thiên về những thử thách trong giáo dục đương đại.

Chương trình Cử nhân của Đại học Fulbright Việt Nam chính thức khởi động vào tháng Chín năm 2018 với năm học Đồng Kiến tạo. Đây là năm học mà 54 sinh viên Đồng Kiến tạo trải nghiệm và hoàn thiện hành trình đại học dưới sự đồng hành và dẫn dắt của các giảng viên tận tâm đến từ các trường đại học hàng đầu trên khắp thế giới.

Đại học Fulbright Việt Nam khởi nguồn từ Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP), vốn là kết quả hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Harvard Kennedy. 

Nay được biết với tên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (FSPPM), chương trình cao học của chúng tôi tự hào là trung tâm nghiên cứu và đào tạo chính sách công đẳng cấp quốc tế.

Để biết thêm thông tin về Đại học Fulbright Việt Nam, xin vui lòng truy cập website: http://fulbright.edu.vn.

Đại sứ Ted Osius vừa được bổ nhiệm nắm giữ trọng trách Phó Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam (Fulbright).

“Chúng tôi vô cùng hào hứng khi Đại sứ Osius sẽ ở lại Việt Nam và tham gia Fulbright trong vai trò Phó Chủ tịch”, bà Đàm Bích Thuỷ, Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam phát biểu.

“Trong hơn ba năm đảm nhiệm cương vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông đã giành được tình cảm yêu mến và sự tôn trọng của rất nhiều người Việt Nam. Họ yêu quý Ted vì nguồn năng lượng, bầu nhiệt huyết và tình yêu của ông dành cho con người, văn hoá và ngôn ngữ Việt. Sự đóng góp của Ted Osius cho quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là không thể đong đếm”.

Đại sứ Osius đảm nhiệm vai trò Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2017. Trong suốt nhiệm kỳ của ông, quan hệ song phương giữa hai nước đã được củng cố và bền chặt hơn trong nhiều lĩnh vực như thương mại và đầu tư, giáo dục, hợp tác an ninh. Nhiệm kỳ đại sứ của ông Ted Osius được đánh dấu bằng những sự kiện lịch sử như chuyến thăm Hoa Kỳ năm 2015 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và chuyến thăm Việt Nam năm 2016 của Tổng thống Barack Obama.

Xây dựng quan hệ đối tác

Ở vai trò Phó Chủ tịch Fulbright, Đại sứ Osius sẽ đảm nhận nhiều trọng trách. Là thành viên đội ngũ lãnh đạo cao cấp của trường, ông sẽ giúp tiếp tục dẫn dắt sự phát triển của Fulbright. Ông Ted Osius sẽ chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động đối ngoại của Trường và xây dựng quan hệ đối tác với các tổ chức ở Việt Nam và Hoa Kỳ.

Đại sứ Osius cũng sẽ nắm giữ vị trí Giám đốc Sáng lập của Grand Challenges Initiative (Sáng kiến Thách thức lớn). Chương trình này sẽ giúp Fulbright tham gia vào các nỗ lực giải quyết một số thách thức và cơ hội to lớn mà Việt Nam, khu vực và thế giới đang phải đối mặt.

“Tôi rất vui mừng được gia nhập đội ngũ của Đại học Fulbright Việt Nam. Tôi luôn dành một mối quan tâm đặc biệt đến giáo dục và trong suốt sự nghiệp ngoại giao của mình, tôi đã tận dụng mọi cơ hội tham gia giảng dạy và hướng dẫn mọi người.

Công việc ở Fulbright còn mang ý nghĩa lớn lao đối với cá nhân tôi, bởi đó là mối duyên giữa giáo dục và tình yêu của tôi dành cho Việt Nam, đất nước mà tôi đã gắn bó như quê hương mình trong suốt năm năm. Trong thời gian ở đây, tôi đã dần nhận ra rằng giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng một tương lai thịnh vượng cho Việt Nam”, Đại sứ Osius nói.

“Trong thời gian ở đây, tôi đã dần nhận ra rằng giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng một tương lai thịnh vượng cho Việt Nam”

ĐẠI SỨ TED OSIUS

“Để Fulbright hiện thực hoá được tiềm năng lớn lao của nó, Trường cần phải tham gia vào mạng lưới các mối liên kết và quan hệ đối tác cùng có lợi với các đối tác ở Việt Nam, Hoa Kỳ và trên thế giới. Là đại sứ Hoa Kỳ, mỗi ngày tôi đều được nhắc nhở về mối quan tâm của các doanh nghiệp và các trường đại học mong muốn tham gia vào dự án này.

Tôi rất hào hứng mong chờ những ngày sắp tới để được góp sức mình thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với khu vực công, tư nhân và các tổ chức giáo dục nhằm đảm bảo rằng Fulbright sẽ có nhiều nguồn lực để phát triển và cống hiến cho sự phát triển của Việt Nam”, Đại sứ Osius cho biết.

“Đối với Fulbright để đạt được tiềm năng biến đổi của nó, chúng ta phải nhúng trường đại học vào một mạng lưới quan hệ đối tác có lợi lẫn nhau và liên kết với các đối tác ở Việt Nam, ở Hoa Kỳ và trên thế giới. Là đại sứ, tôi đã nhắc nhở mỗi ngày về mong muốn quan tâm của các tổ chức Hoa Kỳ, bao gồm cả các tập đoàn và trường đại học để tham gia. Tôi mong muốn giúp đỡ tạo dựng mối quan hệ giữa các khu vực nhà nước, tư nhân và giáo dục để đảm bảo rằng Fulbright có nhiều nguồn lực để phát triển và tạo ra sự khác biệt ở Việt Nam “, Đại sứ Osius tuyên bố.

“Bản sắc Việt Nam và Hoa Kỳ đã được mã hoá trong DNA của Fulbright ngay từ khi thành lập và được thể hiện trong tên gọi của Trường. Thật phù hợp khi Ted, người đã làm rất nhiều việc để đưa hai nước chúng ta xích lại gần nhau hơn sẽ tham gia đội ngũ lãnh đạo của Fulbright”, Thomas J. Vallely, Chủ tịch Quỹ tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam, tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Hoa Kỳ chịu trách nhiệm hỗ trợ Fulbright nói.

“Ted không chỉ là một nhà lãnh đạo, một nhà ngoại giao tài năng mà ông luôn quan tâm đến những thách thức mà Việt Nam đang phải đương đầu hiện nay, cũng như những dòng chảy đang định hình xã hội. Bởi vậy, Ted đặc biệt có khả năng giúp Fulbright tập trung nguồn lực trí tuệ vào những vấn đề này, vốn là mục tiêu của Sáng kiến Thách thức lớn của Fulbright”, ông Vallely cho biết.

Trong suốt sự nghiệp 29 năm tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Đại sứ Osius đã làm việc tại Phái đoàn của Liên Hợp Quốc tại Hoa Kỳ và sáu quốc gia bao gồm Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, Vatican và Philippines.

Ông đã giảng dạy tại National War College ở Washington, D.C. và từng là một thành viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế. Ông có bằng cử nhân Đại học Harvard và bằng Thạc sỹ ngành quan hệ quốc tế Đại học Johns Hopkins.

Đại sứ Osius sẽ chính thức bắt đầu làm việc tại Fulbright vào ngày 2 tháng 1 năm 2018.